Bài đăng nổi bật

52 phác đồ Diện Chẩn thường dùng

52 phác đồ Diện Chẩn thường dùng  "52 Phác đồ Diện Chẩn thường dùng" vừa là các phác đồ hỗ trợ, vừa là các phác đồ điều t...

Thứ Sáu, 20 tháng 5, 2016

Danh sách videos Diện Chẩn khóa 110

Cảm ơn anh Phạm Đức Thuật và Diện Chẩn Thanh Hóa
Sau 15 ngày tranh thủ anh đã tải xong 80 video Diện Chẩn do thầy Bùi Quốc Châu trực tiếp giảng dạy khóa 110. Anh chị nào cần tham khảo thì xem tại link sau:
https://www.youtube.com/watch?v=UK7Kq0wI6zQ&list=PLZ3CUnPBrrNw_ts9EchKMRDIoB1j-f3R2

Xem trực tiếp:



Thứ Ba, 17 tháng 5, 2016



DIỆN CHẨN NÂNG CAO




TIẾT THỰC (NHỊN ĐÓI) ĐỂ CHỮA BỆNH - P1



TIẾT THỰC (NHỊN ĐÓI) ĐỂ CHỮA BỆNH - P2




TIẾT THỰC (NHỊN ĐÓI) ĐỂ CHỮA BỆNH - P3



TIẾT THỰC (NHỊN ĐÓI) ĐỂ CHỮA BỆNH - P4





TIẾT THỰC (NHỊN ĐÓI) ĐỂ CHỮA BỆNH - P5






THỂ DỤC TỰ Ý 01






THỂ DỤC TỰ Ý 02











Trọn bộ videos Diện Chẩn Điều Khiển Liệu Pháp Bùi Quốc Châu (cấp 1-6) và Âm Dương Khí Công
Khóa 133
                                                                      Video 01




                                                                      Video 02 


Video 03




Video 04



Video 05




video 06




Video 07


Video 08



Video 09



video 10


Video 11


Video 12


Video 13


Video 14


Video 15


Video 16


Video 17


Video 18



Video 19



Video 20


Video 21


Video 22



Video 23 (không có)
Video 24



Video 25



Video Diện Chẩn ĐKLP 
Khóa 110


Thứ Tư, 6 tháng 1, 2016

CHÂM KIM HOA MAI (MAI HOA CHÂM)

Mục tiêu 
1. Trình bày được kỹ thuật gõ kim hoa mai và cơ sở lý luận của phương pháp.
2. Liệt kê được các đường gõ kim hoa mai trong gõ vùng thường quy.
3. Liệt kê được các đường gõ kim hoa mai trong gõ vùng đầu mặt cổ, vùng chi trên, vùng chi dưới, vùng ngực, vùng bụng và lưng.
4. Trình bày được chỉ định và chống chỉ định của gõ kim hoa mai.
5. Nêu được những phản ứng phụ của kim hoa mai và cách xử lý.
I. Đại cương 
Gõ kim hoa mai là phương pháp dùng kim hoa mai (5 - 7 chiếc kim nhỏ cắm vào đầu một cán gỗ), gõ trên mặt da, nhằm mục đích chữa bệnh hoặc phòng bệnh. Đây là một hình thức phát triển của châm cứu.
II. Lịch sử phát triển của châm kim hoa mai 
Sách Linh khu, thiên Quan kim có ghi lại một vài phương pháp kích thích nhẹ trên da như:
− Bán thích: dùng kim châm nông rồi rút kim ngay, không làm thương tổn đến cơ thịt; có cảm giác như nhổ một sợi tóc.
− Báo văn thích: châm nông tại chỗ đau 4 điểm (phía trên, phía dưới, bên phải, bên trái).
− Dương thích: châm nông tại chỗ đau như báo văn thích, thêm một điểm ở chính giữa.
Về sau dựa vào cách châm nông và nhiều điểm tại chỗ đau, các nhà châm cứu dùng 5 - 7 cây kim bó chụm lại cắm ở đầu một cán gỗ (để tiện cầm) và châm nông trên mặt da. Đây là hình thức đầu tiên của kim hoa mai.
Kim hoa mai ngày nay được cải tiến và thường có hai loại:
+ Loại kim chụm.
+ Loại kim xòe hình gương sen.
III. Cách làm kim hoa mai đơn giản 
Dùng 5 - 7 chiếc kim bằng thép không rỉ, mũi kim không quá sắc nhọn, dài độ 2cm, bó chụm lại, đầu nhọn các kim nằm trên một mặt phẳng, cắm chặt và thẳng góc vào đầu một cán gỗ dài độ 25cm, cách đầu cán độ 1cm. Chuôi cán hơi to hơn một chút để dễ cầm.
IV. Cách cầm kim hoa mai 
Ngón tay cái và giữa cầm chặt ở 1/3 cán kim, ngón nhẫn và út đỡ thân cán vào lòng bàn tay, ngón trỏ đặt trên cán kim.
Lúc gõ chủ yếu là cử động nhịp nhàng của cổ tay, trục bó kim tiếp xúc thẳng góc với mặt da.

Hình 12.1. Các loại kim hoa mai và cách cầm kim
V. Cơ sở lý luận của gõ kim hoa mai 
Người xưa quan niệm rằng mặt da của cơ thể là một bộ phận của kinh lạc, chia thành 12 vùng có liên quan đến sự phân bố của 12 đường kinh mạch, tức 12 khu da (bì bộ).
 “Muốn biết khu da phải lấy đường tuần hành của kinh mạch làm gốc, các đường kinh đều như thế cả”“Bì bộ dĩ kinh mạch vi kỳ” (Tố vấn - Bì bộ luận).
 “Những hiện tượng của kinh mạch đều thể hiện ra ở mặt da; vì thế, khu da là phần ngoài da của kinh mạch” (Trương Cảnh Nhạc).
Các kinh mạch đều tuần hành ở sâu trong cơ, không chạy trên mặt da, nhưng các lạc mạch của chúng được phân bố khắp mặt da. Mỗi đường kinh có một khu da riêng, 12 đường kinh có 12 khu da (bì bộ). Mỗi khu da đều có liên quan đến kinh mạch và tạng phủ có quan hệ với nó.
Vì “Da là bộ phận của hệ kinh mạch. Ngoại tà xâm phạm vào da làm cho tấu lý mở ra. Trước tiên lạc mạch bị xâm phạm. Nếu tà khí tràn đầy lạc mạch sẽ tiếp tục tràn vào kinh mạch. Nếu kinh mạch lại bị tà khí tràn ngập thì sẽ truyền sâu vào tạng phủ” (Tố vấn - Bì bộ luận).
Như vậy tà khí xâm phạm vào da trước rồi theo đường kinh lạc dẫn truyền vào tạng phủ.
Mặt khác, bệnh tật từ nội tạng phát sinh ra thì cũng theo đường kinh lạc từ nội tạng chuyển ra ngoài da, thể hiện bằng những phản ứng bệnh lý như xuất hiện những vùng đau nhức, các điểm ấn đau, mẩn ngứa, thay đổi màu da v. v.
Như vậy, nhờ sự liên quan mật thiết giữa da và nội tạng mà bệnh tật được truyền từ da vào nội tạng và ngược lại từ nội tạng ra ngoài da thông qua đường tuần hành kinh mạch.
Gõ kim hoa mai có tác dụng thông qua hệ kinh lạc, quan hệ giữa da và tạng phủ mà điều hòa dinh vệ, khí huyết; lặp lại thăng bằng âm dương, tăng cường sức đề kháng của cơ thể để phòng và chữa bệnh.
VI. Tư thế thầy thuốc và người bệnh 
− Người bệnh có thể ngồi hoặc nằm, tư thế phải thoải mái dễ chịu.
− Ngồi khom lưng và hơi cúi đầu là hai tư thế thuận lợi nhất để gõ vùng thường quy và vùng chẩm, gáy.
− Thầy thuốc có thể đứng cạnh giường hoặc ghế người bệnh, cũng có thể ngồi ghế cạnh giường người bệnh.
− Giường bệnh nên đặt cách xa tường để thầy thuốc có thể đi lại xung quanh, thuận lợi cho thao tác.
VII. Các vùng điều trị trên cơ thể 
Ngoài cách chia mặt da ra thành 12 khu như theo kiểu kinh điển, người ta còn quy ước một sự phân chia khác để tiến hành điều trị như sau
A. Vùng thường quy
Được gọi là thường quy vì đây là vùng mà người thầy thuốc khi tiến hành điều trị đều sử dụng trước tiên. Tác dụng của động tác này là “phù chính để khu tà”.
Những công trình nghiên cứu về tác dụng của thủ thuật này của Trung Quốc (trên súc vật thí nghiệm) và Việt Nam (trên người) cho thấy gõ thường quy mai hoa châm làm tăng phản ứng không đặc hiệu của cơ thể chống vi trùng.
Đường kích thích:
− Bốn đường dọc, mỗi bên cột sống hai đường:
+ Đường trong theo dọc các huyệt hoa đà hai từ ngang huyệt đại chùy đến huyệt hạ liêu.
+ Đường ngoài theo dọc từ bờ trong xương bả vai xuống đến huyệt trật biên.
− Mười đường ngang khoảng cách mỗi đường là hai đốt sống lưng.
Tác dụng điều trị: điều hoà dinh, vệ, khí, huyết làm cho âm dương thăng bằng, tăng cường sức đề kháng cơ thể.
Những tài liệu sau này có đề cập đến vùng gõ thường quy được đơn giản bớt còn 3 đường dọc theo lưng:

Hình 12.2. Vùng gõ thường quy
Đường thứ nhất dọc theo đường giữa lưng.
Đường thứ hai là hai đường chạy dọc theo hai kinh Bàng quang 1.
B. VùNG ĐầU MặT
1. Khu trán 
− Đường kích thích: 3 đường ngang song song từ phải qua trái hoặc ngược lại.
− Điều trị: chứng nhức đầu thuộc kinh dương minh (Đại trường và Vị), bệnh tại chỗ.
2. Khu trước đỉnh đầu và hai bên đầu 
− Đường kích thích: 3 - 4 đường ngang từ chân tóc bên phải sang chân tóc bên trái hoặc ngược lại.
− Điều trị: bệnh thiên đầu thống, bệnh tai, mắt, mũi và chứng nhức đầu thuộc kinh thiếu dương (Tam tiêu và Đởm).
3. Khu đỉnh đầu (vùng huyệt bách hội và huyệt tứ Thần thông, chạy ra hai bên chỏm tai)
− Đường kích thích:
+ 3 - 4 đường vòng tròn quanh huyệt bách hội.
+ 3 - 4 đường ngang từ chỏm tai phải sang chỏm tai trái, hoặc ngược lại.
− Điều trị: nhức đầu, hoa mắt, chóng mặt, trúng phong, cấm khẩu; các bệnh thuộc can dương hỏa vượng, thận thủy suy kém, hư hỏa thượng xung.
4. Khu sau đầu 
− Đường kích thích: 5 - 7 đường dọc từ ngang huyệt Hậu đỉnh đến chân tóc sau gáy.
− Điều trị: chứng nhức đầu sau gáy, cứng gáy, bệnh tai, mũi, họng, lưỡi và bệnh thuộc kinh Bàng quang.

Hình 13.3. Gõ vùng đầu mặt cổ
5. Khu mắt 
− Đường kích thích:
+ 1 - 2 đường cong dọc bờ mi trên.
+ 1 - 2 đường cong dọc bờ mi dưới, đều từ trong ra ngoài.
Điều trị: các bệnh về mắt.
6. Khu mũi 
− Đường kích thích: hai đường từ huyệt tình minh dọc theo bờ mũi đến cánh mũi.
− Điều trị: các bệnh cấp tính hoặc mạn tính về mũi.
7. Khu môi 
− Đường kích thích: 1 - 2 đường cong song song quanh môi trên và môi dưới.
− Điều trị: bệnh răng, hàm mặt, miệng, lưỡi.
8. Khu gò má 
− Đường kích thích: hai đường từ huyệt nghinh hương bên ngoài cánh mũi chạy vòng bên dưới xương gò má đến huyệt thính cung (bình tai).
− Điều trị: các bệnh ở mặt, răng, mũi và liệt dây Thần kinh VII.
9. Khu tai 
− Đường kích thích: 1 - 2 đường vòng quanh lỗ tai, bắt đầu từ huyệt thính cung vòng lên trên, ra sau tai, vòng xuống qua huyệt ế phong rồi vòng ngược lên thính cung.
− Điều trị: bệnh về tai.
10. Khu thái dương 
− Đường kích thích: 3 - 4 đường từ ngang huyệt nhĩ môn tỏa ra thành hình nan quạt.
− Điều trị: bệnh thuộc kinh thiếu dương Đởm, thiên đầu thống; bệnh về tai, mắt.
C. Vùng cổ
1. Khu sau gáy 
− Đường kích thích (5 đường):
+ Một đường giữa chân tóc gáy đến huyệt đại chùy.
+ Hai đường cạnh dọc theo kinh Bàng quang từ chân tóc đến huyệt đại trữ.
+ Hai đường dọc theo kinh Đởm từ huyệt phong trì đến huyệt kiên tỉnh.
− Điều trị: dây là khu trọng điểm; chủ yếu chữa các bệnh đau đầu, bệnh về tai mũi họng và chứng cảm sốt, cứng gáy.
2. Khu trước cổ 
Đường kích thích: mỗi bên cổ 1 - 2 đường từ dưới hàm đến ngang huyệt khí xá.
− Điều trị: bệnh ở cổ họng như viêm họng, viêm amiđan, bướu cổ và bệnh cao huyết áp.
3. Khu cơ ức đòn chũm 
− Đường kích thích: 1 - 2 đường từ chân tóc sau gáy chạy dọc xuống theo cơ ức đòn chũm.
− Điều trị: bệnh ở cổ họng, lưỡi và bệnh lao hạch (tràng nhạc).
D. VùNG CHI TRêN
Chi trên chia làm hai khu: mé trong tay và khu mé ngoài tay (theo tư thế đứng buông thõng tay, lòng bàn tay áp vào đùi, ứng với mặt trước và mặt sau của tay).
1. Khu trong cánh tay 
− Đường kích thích: ba đường dọc từ bờ dưới nách đến ngang khuỷu tay.
− Điều trị: bệnh thuộc các tạng tâm, phế; đau dọc tay và khuỷu tay.
2. Khu trong khuỷu tay 
− Đường kích thích: 3 đường ngang song song từ huyệt khúc trì đến huyệt tiểu hải hoặc ngược lại.
− Điều trị: đau nhức vùng khuỷu tay, đau cánh tay, cẳng tay và chứng sốt nóng.
3. Khu trong cẳng tay 
− Đường kích thích: ba đường dọc từ khuỷu tay đến bàn tay.
− Điều trị: bệnh thuộc tâm, phế; bệnh ở ngực; đau nhức dọc cẳng tay.
4. Khu trong cổ tay 
− Đường kích thích: hai đường ngang song song tại lằn chỉ cổ tay − Điều trị: bệnh thuộc tâm, phế; bệnh ở họng; đau nhức cổ tay.
5. Khu gan bàn tay 
− Đường kích thích: năm đường ngang lằn chỉ cổ tay tỏa ra đến tận các ngón tay.
− Điều trị: bệnh ở vùng ngực, họng, sốt âm, bệnh tay và đau nhức ở gan bàn tay.
6. Khu ngoài cánh tay 
− Đường kích thích: ba đường dọc từ vai đến khuỷu tay.
Điều trị: bệnh ở đầu, gáy, bả vai; đau nhức dọc cánh tay.

Hình 12.4. Vùng gõ mặt trong chi trên và Hình 12.5. Vùng gõ gan bàn tay
7. Khu ngoài cẳng tay 
− Đường kích thích: ba đường dọc từ khu ngoài khuỷu tay đến cổ tay.
− Điều trị: các bệnh về tai, mũi, họng, đầu mặt, bệnh lây, sốt nóng thuộc kinh thiếu dương (Tam tiêu).
8. Khu mu bàn tay 
− Đường kích thích: 4 đường từ cổ tay tỏa ra đến các khe ngón tay (dọc theo khe xương bàn tay).
− Điều trị: bệnh ở đầu, mặt, tai, mắt, mũi họng, răng, hàm và chứng sốt nóng.
 
Hình 12.6. Vùng gõ mặt ngoài chi trên và Hình 12.7. Vùng gõ lưng bàn tay
9. Khu ngón tay 
− Đường kích thích: mỗi bên ngón tay một đường dọc, từ đầu trên đốt 1 đến đầu ngón tay.
− Điều trị: bệnh não và bệnh Thần kinh nói chung.
E. VùNG CHI DướI
Chi dưới được chia làm 4 khu: khu mé trong, khu mé ngoài, khu trước và sau chân.
1. Khu đùi trước 
− Đường kích thích: đường dọc từ nếp bẹn đến bờ trên xương bánh chè.
− Điều trị: bệnh thuộc đại trường, tiểu trường; đau nhức mặt trước đùi, đầu gối và bệnh thuộc kinh dương minh (Vị).
2. Khu trước cẳng chân 
− Đường kích thích: 3 đường dọc từ đầu gối xuống trước cổ chân.
− Điều trị: bệnh thuộc tạng Phế, phủ Vị, bệnh đường ruột, bệnh ở đầu và ngực nói chung, chủ yếu là bệnh thuộc dương minh (Vị).
3. Khu sau đùi và vùng khoeo chân − Đường kích thích:
+ Ba đường dọc từ nếp lằn mông đến khoeo
+ Ba đường song song qua lại ngang lằn chỉ khoeo chân.
− Điều trị: bệnh ở lưng, bệnh trĩ, bệnh đường ruột.
4. Khu sau cẳng chân 
− Đường kích thích: ba đường dọc từ khoeo đến sau cổ chân.
− Điều trị: bệnh ở lưng, bệnh đường ruột, bệnh trĩ và đau nhức sau cẳng chân.
5. Khu mé trong đùi và cẳng chân − Đường kích thích:
+ Ba đường dọc từ nếp bẹn xuống mé trong đầu gối.
+ Tiếp đó là ba đường dọc chạy xuống dọc mé trong cẳng chân xuống cổ chân.
− Điều trị: bệnh thuộc hệ sinh dục, tiết niệu, bệnh đường ruột và đau nhức mé trong cẳng chân.
6. Khu mé ngoài đùi và cẳng chân 

Hình 13.8. Vùng gõ chi dưới
− Đường kích thích:
+ Ba đường dọc từ đầu trên xương đùi đến mé ngoài đầu gối.
+ Tiếp đó là 3 đường dọc chạy xuống mé ngoài cổ chân.
− Điều trị:
+ Đoạn trên: bệnh bại liệt, phong thấp, đau phía ngoài đùi.
+ Đoạn dưới: chứng nhức đầu, đau bụng, bệnh ở mắt, tai, họng sườn và bệnh thuộc kinh thiếu dương (Đởm) nói chung.
7. Khu trước cổ chân và mu chân − Đường kích thích:
− Ba đường ở ngang trước cổ chân.
− Bốn đường hình nan quạt từ cổ chân tỏa ra đến các khe ngón chân dọc các khe xương bàn chân.
− Điều trị: bệnh ở đầu, mặt, răng, hàm, họng, đau nhức vùng cổ chân và mu bàn chân.
8. Khu gan bàn chân 
− Đường kích thích: từ hai huyệt dũng tuyền tỏa ra hai bên đến gót chân.
− Điều trị: chứng âm hư và bệnh suy nhược Thần kinh.

Hình 13.9. Vùng gõ bàn chân
9. Khu xương bánh chè 
− Đường kích thích: hai đường vòng quanh xương bánh chè
− Điều trị: đau nhức gối, bệnh cước khí.
10. Khu mắt cá trong và ngoài 
− Đường kích thích: hai đường vòng quanh mắt cá trong và ngoài.
− Điều trị: đau khớp cổ chân, sưng đau mắt cá chân, chứng sốt nóng.
F. VùNG NGựC
1. Khu xương ức 
− Đường kích thích: hai đường dọc ở hai bên xương ức.
− Điều trị: bệnh ở thực quản, phế quản, tim, phổi và chứng khí thượng xung.

Hình 13.1. Vùng gõ mặt trước thân
2. Khu lồng ngực 
− Đường kích thích: mỗi khoảng liên sườn 1 - 2 đường.
− Điều trị: viêm đau tuyến vú, tắc tia sữa.
G. Vùng bụng
1. Khu bụng trên 
− Đường kích thích:
+ Năm đường dọc từ bờ dưới cung sườn đến rốn (một đường giữa bụng và mỗi bên hai đường dọc song song).
+ Bốn đường ngang chia đều vùng bụng trên từ phải qua trái hoặc ngược lại.
− Điều trị: bệnh thuộc bộ máy tiêu hóa và chứng phù thũng.
2. Khu bụng dưới 
− Đường kích thích:
+ Năm đường dọc nối tiếp 5 đường dọc ở vùng bụng trên từ ngang rốn đến xuống nếp bẹn và xương mu.
+ Ba đến bốn đường ngang.
− Điều trị: bệnh thuộc bộ máy sinh dục và tiết niệu, tăng cường sức khỏe cơ thể.
3. Khu nếp bẹn 
− Đường kích thích: mỗi bên hai đường song song chạy dọc theo nếp bẹn từ trên xuống dưới.
− Điều trị: bệnh thuộc hệ sinh dục và tiết niệu.
H. VùNG LưNG
Vùng lưng chia làm 5 khu, mỗi khu có tác dụng điều trị riêng.
1. Khu lưng trên (D1 - D7) 
− Đường kích thích: 4 đường dọc như vùng gõ thường quy và cách mỗi đốt sống lưng là một đường ngang.
− Điều trị: đây là khu trọng điểm 2; khu này dùng để điều trị bệnh tim, phổi, đau tức ngực và đau nhức dọc chi trên.
2. Khu lưng giữa (D8 - D12) 
− Đường kích thích: 4 đường dọc như vùng gõ thường quy và cách mỗi đốt sống lưng là một đường ngang.
− Điều trị: đây là khu trọng điểm 3, điều trị bệnh hệ tiêu hóa và bệnh tăng huyết áp thể can dương hỏa vượng.
3. Khu lưng dưới (L3 - L5) 
− Đường kích thích: 4 đường dọc như vùng gõ thường quy và cách mỗi đốt sống lưng là một đường ngang.
− Điều trị: đây là khu trọng điểm 4; khu này dùng để điều trị các bệnh thuộc hệ sinh dục, tiết niệu và đau nhức dọc chi dưới.
4. Khu xương bả vai 
− Đường kích thích: hai đường vòng quanh xương bả vai.
− Điều trị: đau nhức xương bả vai và dọc chi trên.
5. Khu cơ thang và trên vai 
− Đường kích thích: mỗi bên 3 đường từ ngang D1, D2, D3 tỏa lên vùng cổ, gáy.
− Điều trị: cứng gáy, đau đầu, đau viêm tuyến vú.
VIII. Áp dụng vào điều trị 
A. Chỉ định và chống chỉ định 
Nói chung là gõ kim hoa mai có thể dùng chữa trị các loại bệnh như hào châm vẫn thường làm.
Phương pháp này tỏ ra thích hợp nhất đối với các loại bệnh: suy nhược Thần kinh, đau đầu, mất ngủ, đau dây Thần kinh liên sườn, liệt dây Thần kinh VII, cơn đau dạ dày tá tràng, tiêu hóa kém, đau bụng lúc hành kinh, đái dầm, sa trực tràng, sạm da, mẩn ngứa ngoài da bị viêm loét chảy nước vàng hoặc chảy mủ.
B. Thủ thuật gõ kim hoa mai 
Có ba cách gõ: gõ nhẹ, gõ vừa và gõ mạnh.
− Gõ nhẹ: gõ rất nhẹ nhàng trên mặt da, hoàn toàn không đau. Bệnh nhân cảm thấy thoải mái và dễ chịu. Thủ thuật này có tác dụng bổ, tăng sức khỏe cho bệnh nhân, thường dùng cho chứng hư hàn.
− Gõ vừa: gõ vừa sức không nhẹ, không mạnh, có tác dụng bình bổ tả. Cách này thường dùng trong các chứng bán biểu, bán lý, không hư, không thực.
− Gõ mạnh: sức bật của cổ tay khỏe hơn, tuy thế bệnh nhân vẫn đủ sức chịu đựng, có tác dụng tả, thích ứng với các chứng thực nhiệt.
C. Trình tự gõ kim hoa mai 
Cần gõ theo một thứ tự nhất định:
− Trước hết gõ vùng thường quy.
− Rồi gõ khu trọng điểm.
− Cuối cùng gõ khu kết hợp.
Trường hợp trong công thức điều trị không có thường quy mà chỉ có khu trọng điểm và khu kết hợp thì gõ khu trọng điểm trước, khu kết hợp sau.
Trường hợp gõ theo vùng thì gõ vùng đầu và vùng lưng trước, gõ vùng ngực, bụng, chân sau.
Trường hợp gõ vùng đầu thì gõ khu trán trước, rồi gõ khu thái dương, khu đỉnh đầu và sau cùng gõ khu chẩm.
D. Phản ứng phụ và cách xử lý 
Điều trị bằng gõ kim hoa mai rất an toàn. Nhưng cũng có trường hợp say kim (vựng châm), khi người bệnh quá hư yếu hoặc Thần kinh quá mẫn; bệnh nhân bị suy tim hoặc gõ kim lúc người bệnh quá no hoặc quá đói.
Trong những trường hợp này: cho người bệnh uống nước đường nóng hoặc nước chè nóng. Đặt nằm sấp, gõ nhẹ ở khu thắt lưng mỗi đường gõ 10 lần theo hướng ngược từ dưới lên trên.
Trường hợp da người bệnh quá bẩn, lúc gõ lại không sát trùng bằng cồn nên có thể gây nên những nốt đỏ như bị sởi: cho người bệnh tạm nghỉ điều trị, chăm sóc da vùng nổi mẩn.
E. Một số điểm cần chú ý
− Thầy thuốc cần thường xuyên kiểm tra kim hoa mai xem các mũi kim có móc câu không, nếu có cần vuốt nắn lại.
− Lúc gõ nên hỏi người bệnh có đau nhiều không? mức độ đau như thế nào? Cần có sự phối hợp giữa thầy thuốc và người bệnh.
− Không được gõ vùng bị sẹo, có vết thương hoặc bị lở loét.
− Trước khi gõ nên khử trùng kim, phải sát trùng chỗ gõ trước và sau khi gõ.
F. Một số công thức điều trị 
Căn cứ vào tác dụng điều trị của từng khu, từng vùng và lý luận điều trị biện chứng của Đông y, có thể dùng gõ kim hoa mai để chữa một số bệnh theo công thức như sau
1. Bệnh hô hấp 
− Vùng thường quy: gõ vừa.
− Khu trọng điểm: khu lưng trên.
− Khu kết hợp: khu ngực, có thể thêm khu trong cẳng tay, gõ 3 đường dọc từ khuỷu tay xuống đến cổ tay.
2. Bệnh thần kinh 
− Vùng thường quy.
− Khu trọng điểm: Khu sau gáy, khu lưng dưới.
− Khu kết hợp: vùng đầu, khu trong cẳng tay, khu trong cẳng chân.
3. Bệnh tiêu hóa 
− Vùng thường quy.
− Khu trọng điểm: khu lưng giữa.
− Khu kết hợp: khu bụng trên, khu trước cẳng chân.
4. Bệnh hệ vận động 
− Vùng thường quy.
− Khu trọng điểm:
+ Đau 2 chi trên thì gõ khu lưng trên.
+ Đau 2 chi dưới thì gõ khu lưng dưới.
− Khu kết hợp: vùng đau.
5. Bệnh hệ tuần hoàn − Vùng thường quy.
− Khu trọng điểm: khu lưng trên.
− Khu kết hợp: khu trong tay và trong chân.
6. Bệnh hệ tiết niệu và sinh dục − Vùng thường quy.
− Khu trọng điểm: khu dưới lưng.
− Khu kết hợp: khu bụng dưới, khu trong cẳng chân, khu nếp bẹn.
7. Bệnh nội tiết 
− Vùng thường quy.
− Khu trọng điểm: khu lưng giữa hoặc lưng dưới.
− Khu kết hợp: khu trong cẳng chân.
8. Bệnh ngoài da 
− Bệnh ở 2 chi trên: gõ tại chỗ, khu lưng trên và 2 khu trong khuỷu tay.
− Bệnh ở hai chi dưới: gõ tại chỗ, khu lưng dưới và 2 khu khoeo chân.
− Bệnh ở lưng và bụng ngực: gõ tại chỗ, vùng thường quy, khu trong khuỷu tay và khu khoeo chân.
− Nếu chỗ bị bệnh chảy nước vàng hay lở loét thì không nên gõ, chỗ có sẹo cũng không nên gõ.
Gõ tại chỗ thì gõ theo hình trôn ốc, từ ngoài vào trong hoặc từ trong ra ngoài, rồi châm kim 3 cạnh tại 5 điểm, nặn ra một ít máu.
9. Bệnh ngũ quan 
− Vùng thường quy.
− Khu trọng điểm: khu sau gáy.
− Khu kết hợp:
+ Tại chỗ.
+ Khu trong chi trên, chi dưới hoặc khu ngoài chi trên, chi dưới theo biện chứng luận trị.
Cần chú ý mỗi loại bệnh cần có những triệu chứng khác nhau, vì thế trong công thức điều trị cần có gia giảm.
G. Một số cách gõ khác
Những phương pháp điều trị trên là cách điều trị theo vùng của cơ thể. Ngoài ra người ta còn dùng cách gõ theo huyệt, theo kinh, hoàn toàn dựa theo phép biện chứng luận trị:
− Cách gõ theo huyệt: là gõ trực tiếp vào các huyệt theo công thức chữa bệnh của hào châm.
− Cách gõ theo kinh: là gõ vào một đoạn của đường kinh có liên quan với bệnh. Có thể làm như sau:
1. Gõ theo kinh bị bệnh 
Chủ yếu chọn một đoạn đường kinh tại chỗ bị bệnh và một đoạn ở nơi xa.
Ví dụ: bệnh viêm quanh chân răng (nha chu viêm) - (thuộc kinh dương minh Vị); nơi gõ:
− ở mặt: một đoạn kinh Đại trường từ huyệt nghinh hương đến huyệt phù đột; một đoạn kinh Vị từ huyệt thừa tương đến huyệt đầu duy.
− ở nơi xa: một đoạn kinh Đại trường từ huyệt khúc trì đến huyệt hợp cốc; một đoạn kinh Vị, từ huyệt tam túc lý đến huyệt nội đình.
2. Gõ theo kinh có quan hệ biểu lý với kinh bị bệnh 
Ví dụ: điều trị bệnh đái dầm (do khí cơ của Bàng quang kém); nơi gõ:
− Một đoạn kinh bị bệnh (kinh Bàng quang) từ huyệt tam tiêu du đến huyệt bàng quang du.
− Một đoạn kinh có quan hệ biểu lý (kinh Thận) từ huyệt hoành cốt đến huyệt hoang du.
3. Gõ theo quan hệ mẹ con 
Điều trị theo nguyên tắc: bệnh hư thì bổ mẹ, bệnh thực thì tả con.
Ví dụ: bệnh có đờm thuộc hư chứng.
Phép điều trị: bổ thổ sinh kim; nơi gõ:
− Một đoạn kinh Phế từ huyệt thái uyên đến huyệt khúc trạch.
− Một đoạn kinh Tỳ từ huyệt ẩn bạch đến huyệt âm lăng tuyền.
− Một đoạn kinh Vị từ huyệt túc tam lý đến huyệt phong long.
4. Gõ theo quan hệ sinh khắc 
Ví dụ: bệnh viêm bàng quang do thấp nhiệt.
Phép điều trị: kiện tỳ, hành thủy để lợi thủy hay khắc thủy; nơi gõ: − Một đoạn kinh Tỳ từ huyệt ẩn bạch đến huyệt âm lăng tuyền − Một đoạn kinh Tỳ từ huyệt xung môn đến huyệt ssại hoành.
Tóm lại 
Có thể thể gõ kim hoa mai hai cách:
− Gõ theo khu, vùng (dựa trên cơ sở học thuyết Thần kinh).
− Gõ theo huyệt vị và theo đường kinh (dựa trên cơ sở học thuyết kinh lạc).
Cả hai cách đều đem lại kết quả tốt.

Bí quyết bảo vệ sức khỏe qua đôi bàn chân

 Sự kỳ diệu của đôi bàn chân
Từ cổ xưa, y học đã biết chữa bệnh bằng cách xoa, day, bấm huyệt bàn chân. Phương pháp này đã được lưu truyền từ thời Xuân Thu Chiến Quốc. “Hoàng đế nội kinh”, một pho sách kinh điển của nghề thuốc đã nói tới cách chữa bệnh dạ dày, đường ruột, tê chân bằng phương pháp xoa, day, bấm huyệt bàn chân.
Ðến thế kỷ 19, phương pháp chữa bệnh bằng bàn chân đã được các nhà nghiên cứu khoa học châu Âu viết thành sách. Hiện nay, tại Mỹ, Viện Nghiên cứu phản xạ học quốc tế Florida đang nghiên cứu sâu về phương pháp chữa bệnh bằng phản xạ bàn chân.
Người ta cho rằng bàn chân là “quả tim” thứ hai của con người. Xoa bóp bấm huyệt đôi bàn chân vẫn đang có những bước phát triển mới, thực sự đã trở thành một phương pháp chữa bệnh độc đáo, có khả năng phòng và chữa trị được nhiều chứng bệnh. Dễ học, dễ làm, hiệu quả cao có thể được coi là đặc điểm của phương pháp phòng và chữa bệnh này.
Chữa bệnh bằng phản xạ bàn chân được xây dựng trên cơ sở học thuyết âm dương, ngũ hành và học thuyết kinh lạc của y học cổ truyền (YHCT). Học thuyết kinh lạc của YHCT cho thấy, ở mỗi chân có 6 đường kinh lạc của các tạng phủ, như can, tỳ, thận và đởm, vị, bàng quang. Thông qua tác dụng điều hòa âm dương, thông kinh hoạt lạc... mà có tác dụng chữa bệnh.
Các nhà khoa học cho biết, ở mỗi bàn chân có tới khoảng 7,000 đầu mút thần kinh và họ cũng chứng minh được sự liên quan giữa các vùng phản xạ ở chân với các cơ quan của cơ thể. Năm 1872, tiến sĩ Uyliamf Phischellant, một bác sĩ chuyên khoa tai - mũi - họng Mỹ tình cờ phát hiện sự liên quan giữa tác dụng giảm đau trong phẫu thuật khi bệnh nhân tì mạnh các đầu ngón chân lên thành ghế. Những nghiên cứu sau đó cũng đã cho phép khẳng định sự liên quan giữa các cơ quan trong cơ thể với các vùng phản xạ ở bàn chân. Khi cơ quan đó có những biểu hiện rối loạn chức năng hoặc mắc bệnh thì những vùng đại diện của cơ quan đó ở bàn chân cũng có những phản ứng bất thường như đau tức khi bị ấn, ép.
Cơ chế tác động của phương pháp phản xạ bàn chân
Khi tác động vào các vùng phản xạ sẽ tạo ra được một phản ứng điều hòa chức năng các cơ quan tương ứng với nó, cải thiện sự tuần hoàn huyết dịch ở chỗ đau và qua đó phát huy được hiệu quả phòng và chữa bệnh.
Phương pháp tác động bàn chân
Bạn có thể dễ dàng học được cách xoa bóp đôi chân để chữa bệnh.
Quá trình tác động chia thành 3 giai đoạn:
• Giai đoạn 1: ngâm chân nước nóng trước khi đi ngủ đã trở thành thói quen của người Trung Hoa từ lâu đời.
Bạn hãy ngâm đôi bàn chân vào chậu nước nóng ấm trong 5 - 10 phút. Khi pha nước ngâm chân, có thể cho một chút muối, vài giọt tinh dầu vào chậu nước. Sự nóng ấm và mùi thơm của tinh dầu mang lại cho bạn cảm giác thoải mái dễ chịu. Tiếp đó, hãy lau khô đôi bàn chân bằng một chiếc khăn bông sạch, không cần phải bôi dầu. Nếu không có điều kiện ngâm chân nước nóng, trước khi xoa bấm nên xoa xát hai lòng bàn chân với nhau hoặc dùng lòng bàn tay xoa xát lòng bàn chân cho nóng ấm. Với cách làm này bạn có thể thực hiện ngay tại văn phòng của chính bạn.
• Giai đoạn 2: là giai đoạn tác động toàn thân và xác định các vùng phản xạ bệnh lý.
Bạn vẫn có thể dùng đầu ngón tay cái xoa bấm nhẹ nhàng một cách từ từ vào khắp lòng bàn chân. Khi phát hiện một hay nhiều vùng phản xạ có những phản ứng bất thường, như đau nhói, tức... bạn nên xoa bấm nhẹ nhàng các vùng phản xạ đó, nhưng không nên quá lâu hoặc quá mạnh có thể gây tụ máu. Cần đối chiếu với đồ hình các vùng phản xạ trên bàn chân để xác định cơ quan tương ứng mắc bệnh. Nếu bạn mắc bệnh đau dạ dày thì nơi vùng dạ dày tương ứng trên bàn chân sẽ có những phản ứng đau tức, tê, nóng khi bạn xoa bấm lên đó. Ðây cũng là nguyên tắc để giúp bạn xác định các vị trí cần tác động ở bàn chân.
• Giai đoạn 3: là giai đoạn tác động định khu.
Cần đặc biệt chú ý xoa bóp các vùng phản xạ tương ứng với các cơ quan mắc bệnh được phát hiện thông qua dấu hiệu đau, tức khác thường khi bấm, nắn vào các vùng phản xạ đó. Cơ quan nào bị bệnh thì hãy tác động lên vùng phản xạ cơ quan đó là chính. Ngoài ra có thể tác động lên các vùng có giá trị điều hòa thần kinh thực vật, điều đó có giá trị làm tăng thêm hiệu quả chữa bệnh cho bạn.
Việc tác động bàn chân: không chỉ đem lại hiệu quả chữa bệnh, đôi khi bằng cách thăm dò các phản ứng khác đó, người ta có thể xác định được căn bệnh mà bạn đã, đang hoặc sẽ mắc phải. Như vậy có nghĩa là ngoài tác dụng chữa bệnh, việc xác định các vùng phản xạ tương ứng còn có giá trị giúp cho việc chẩn đoán bệnh.
Quá trình xoa, bấm lòng bàn chân sẽ mang lại cho bạn cảm giác thư giãn thần kinh và thể xác, giảm đau, chống co thắt. Với phương pháp xoa bấm bàn chân, người ta đã chữa được nhiều chứng bệnh, như nhức đầu, suy nhược thần kinh, trầm cảm, hồi hộp, lo lắng, hen suyễn, đau dạ dày... và giảm đau trong phẫu thuật. Thậm chí chỉ bằng tác động trên đôi bàn chân cũng có thể làm áp huyết ở người bệnh tăng áp huyết giảm xuống một cách đáng kể. Các nhà khoa học cũng đã chứng minh được, khi ngâm chân bằng nước nóng cũng có tác dụng làm dãn nở các mạch máu ở não, góp phần tăng cường lưu lượng máu lên não. Thông qua tác dụng đó mà hạn chế được tai biến mạch máu não, một tai biến thường gặp ở người trung - cao tuổi bị vữa xơ động mạch.
CÁCH MASSAGE CHÂN
1. Ngồi xuống sàn, chân hơi co lại. Giữ cho bàn chân hoàn toàn tiếp xúc với mặt đất. Vuốt mạnh tay bắt đầu từ mắt cá chân lên tới đầu gối. Thực hiện lần lượt với cả phía trước và phía sau của chân. Nhớ giữ bàn tay luôn luôn phẳng.
2. Bắt đầu với phần cơ nối giữa hai bắp chân với gót chân (phía dưới đầu gối), dùng hai tay xoa bóp mạnh.
3. Đặt các ngón tay quanh bắp chân, nhấn hai ngón tay tại vùng trung tâm (bụng chân), giữ yên trong 7 giây, tiếp tục di chuyển hai ngón tay hướng lên phía trên. Làm lại nhiều lần.
4. Lần lượt vuốt nhẹ hai bàn tay quanh khu vực đầu gối. Sau đó nhấn hai ngón tay cái ngay phía trên gối, di chuyển lên phía đùi. Thực hiện nhiều lần.
5. Hơi duỗi chân ra một chút sao cho thật thoải mái. Dùng một tay xoa bóp nhẹ nhàng phía bên dưới bắp chân, tiến dần lên trên.
6. Hơi nghiêng chân hướng vào trong. Bắt đầu từ đầu gối, dùng hai bàn tay vuốt mạnh từ dưới lên.
7. Dùng đầu ngón tay xoa bóp từ dưới đầu gối lên. Di chuyển ngón tay theo hướng đường chéo, tiến dần về phía hông. Bàn chân hơi nghiêng vào trong để tạo tư thế thoải mái.
8. Duỗi nhẹ đầu gối, xoay bàn chân hướng ra ngoài để tạo tư thế thoải mái. Dùng hai bàn tay lần lượt xoa bóp phần cơ bắp phía bên trong bắp đùi.
9. Véo nhẹ từng chút một phần cơ bắp dọc theo phía bên trong bắp đùi.
10. Hơi khum bàn tay lại rồi vỗ nhịp nhàng, dọc theo phía bên trong bắp đùi.
11. Các ngón tay khép hờ, dựng bàn tay vuông góc với phía bên trong bắp đùi, “chặt” nhẹ xuống.
12. Dùng mu bàn tay vỗ nhẹ. Thả lỏng hai tay để mang lại hiệu quả cao.
13. Nắm lỏng hai bàn tay, đấm nhẹ dọc theo phía bên trong bắp đùi. Thực hiện lại từ 9 - 13 cho phía bên ngoài của bắp đùi.
14. Trước khi kết thúc, dùng hai bàn tay vuốt nhẹ dọc theo chân hướng từ dưới mắt cá lên trên. Thực hiện nhiều lần như vậy.

6 động tác massage chân

Động tác 1: Ngồi trên sàn, bàn chân trái đặt lên đầu gối chân phải; bàn tay trái để lên mu bàn chân, bàn tay phải đặt dưới lòng bàn chân. Vuốt nhẹ bàn chân theo hướng mũi tên trong hình 1. Đổi chân và lặp lại động tác này.
fd
 












- Động tác 2: Đặt cổ chân trái lên đầu gối chân phải. Dùng ngón tay cái ấn nhẹ và xoay đều lên phần mặt trong của gót chân theo hướng mũi tên như trong hình 2.
f


Động tác 3: Ngón tay cái đặt phía dưới lòng bàn chân, sau đó ấn và vuốt nhẹ theo đường rãnh giữa những ngón chân (hình 3).
mx6-1351735970_500x0.jpg









Động tác 4: Đặt bàn chân trái lên đầu gối và kéo mũi chân hơi chúi xuống đất. Dùng ngón tay cái massage lòng bàn chân thành hình những vòng tròn nhỏ theo
 hướng mũi tên trong hình 4.
g

Động tác 5: Dùng ngón cái của bàn tay trái ấn và miết nhẹ theo đường mũi tên như trong hình 5 cho đến ngón cái của bàn chân.hg














Động tác 6: Nắm lấy những ngón chân, bóp và vuốt nhẹ như trong hình 6. Sau đó lặp lại động tác 1.fg
Chú ý: Trong suốt quá trình thực hiện các động tác, đừng quên thoa một ít dầu massage.

Thứ Sáu, 4 tháng 12, 2015

Sống khỏe với 8 phút massage mặt mỗi ngày


12 động tác xoa mặt


Nếu chịu khó, chúng ta có thể tập 12 động tác xoa mặt vào buổi sáng ngay sau khi thức dậy, cụ thể như sau:
1. Xoa bàn tay cho nóng áp vào mắt (xoa tay áp mắt) 3-5 lần.
Tác dụng: Làm mắt sáng, tỉnh ngủ.
2. Xoa vòng quanh mí mắt từ đầu mày ra phía đuôi mày bằng đầu ngón tay giữa, sau đó dùng đầu ngón tay giữa gõ huyệt trước khoé mắt và sau đuôi mắt rồi gõ huyệt giữa chân mày và giữa xương hốc mắt (ngay dưới con ngươi) mỗi nơi 10 lần.
Tác dụng: Quanh mắt có nhiều huyệt điều tiết con mắt, làm mắt tinh sáng, giảm cận thị, viễn thị, khai thông bộ phận sinh dục nam, khai thông được tinh hoàn. Nữ khai thông buồng trứng, trị đau mỏi cánh tay, bả vai.
xoamat1-6
3. Để hai bàn tay xoa khắp 2 bên mặt, chừa mũi ra. Xoa khắp mặt làm da mặt nóng ấm, da mặt dãn ra, xoa nhiều quanh má.
Tác dụng: Làm da mặt mịn màng, láng bóng, làm thức tỉnh các sinh huyệt, điều hoà lưu thông khí huyết toàn thân.
4. Chà bờ môi trên và cằm. Dùng bàn tay chà qua chà lại, bờ môi trên, bờ môi dưới và ụ cằm, sao cho vùng môi cằm nóng ấm thì dừng (chà nhiều nóng).
Tác dụng: Làm hệ thống tiêu hoá được tốt hơn, giúp hệ bàng quang điều tiết bình thường.
5. Chà dọc mũi (lên xuống). Chập 3 ngón tay trỏ, giữa, áp út vào nhau (ngón giữa để trên sống mũi). Miết từ đầu mũi lên chân tóc, trán, miết lên xuống nhiều lần cho nóng ấm thì dừng.
Tác dụng: Điều hoà nhịp tim, chữa đau cột sống, chữa các bệnh về mũi, làm hạ huyết áp, chữa đau tức ngực, chữa đau cuống họng, làm khoẻ chân, chữa đau mông, háng, chữa đau khớp gối.
6. Khum bàn tay lại úp vào trán, xoa toàn bộ trán, (xoa ngang trán) cho nóng ấm thì dừng.
Tác dụng: Làm cho lục phủ ngũ tạng phản chiếu trên trán được lưu thông. Làm trán không nếp nhăn, tăng cường trí nhớ, tỉnh táo, sáng suốt.
7. Để ngón tay trỏ và giữa vào trước và sau mang tai hình chữ V, chà xát lên xuống cho ấm (chà nhiều nóng gây phỏng da).
Tác dụng: Làm tai thính, trị bệnh tim, bệnh thận, bệnh về cột sống lưng, đau mắt. Chống cảm, mỏi lưng, chống viêm họng, sổ mũi, điều hoà huyết áp, làm nóng ấm người rất nhanh, đặc biệt nhất là vùng trước tai.
xoamat7-12
8. Vuốt cổ (ngửa cổ lên, mở rộng bàn tay) Dùng hai bàn tay đặt từ xương hàm vuốt xuôi xuống cổ (vùng huyệt Thiên đột) chỉ vuốt xuôi không vuốt ngược cho nóng ấm thì dừng.
Tác dụng: làm thông vùng khí quản, chống ho, viêm họng, làm ấm vùng hầu họng, không vướng đờm.
9. Chà gáy: lấy bàn tay chà xát gáy mỗi bên 10 lần, hoặc cho đến khi thấy ấm nóng.
Tác dụng: Tăng cường sức lực cho toàn bộ cơ thể, đưa khí huyết tưới cho toàn bộ vùng não bộ dễ dàng.
10. Cào đầu (dùng 10 đầu ngón tay cào từ mí tóc trán ngược ra sau gáy 50 cái). Dùng 10 đầu ngón tay, cào từ chân tóc lên đỉnh đầu. Cào từ đỉnh đầu dồn về sau ót và hai đầu tai nhiều lần, khi cào phát hiện chỗ nào đau thì cào nhiều lần vào chổ ấy cho tới khi giảm đau.
Tác dụng: Làm máu lưu thông trong não, chữa đau mỏi toàn thân, giúp hệ thần kinh não bộ lập lại sự cân bằng, giải toả những bế tắc, đặc biệt chữa người bị liệt rất tốt.
11. Xoa nóng 2 vành tai. Vuốt tai xuống, cho nóng ấm chừng 30 lần. Hai bàn tay úp vào tai xoa tròn quanh tai cho nóng ấm thì dừng. Dùng hai bàn tay áp vào hai tai các ngón tay đặt ra sau gáy, rồi ép lòng bàn tay vào tai đồng thời dùng 10 đầu ngón tay gõ chẩm.
Tác dụng: Làm khí huyết đưa lên não được lưu thông dễ dàng (làm ấm tai, ấm thận, ấm bao tử). Làm tai tiếp nhận âm thanh tốt, nghe rõ.
12. Gõ răng 10 lần (hai hàm răng dập nhẹ vào nhau). Đảo lưỡi (dùng lưỡi đảo khắp miệng cho đến khi ra nhiều nước miếng, khi đảo lưỡi đưa sát chân răng và lợi nhiều lần), rồi nuốt nước miếng, làm 3 lần cả thảy (để làm mát cơ thể, bổ chân âm).
Tác dụng: Làm chặt lợi, lưu thông khí huyết vùng lợi để nuôi dưỡng răng. Nước miếng mang tính âm, làm mát dạ dày, làm mát cơ thể, bổ chân âm, chống thấp khớp, viêm khớp, khô khớp, làm người trẻ lâu, sát trùng bào tử, chống viêm họng, nhất là nước miếng buổi sáng.
Tóm lại: Xoa mặt buổi sáng có 4 công dụng chính. Khí huyết lưu thông toàn cơ thể. Da dẻ mịn màng, nước da đẹp đẽ. Tiêu hết nám, mụn trên mặt. Mắt tinh, tai thính.

Thứ Tư, 2 tháng 12, 2015


  
PHÁC ĐỒ CHỮA BỆNH CỦA GIÁO SƯ, TIẾN SĨ BÙI QUỐC CHÂU:

Các bệnh theo vần O -> T:

Bệnh theo vần O

Ói, mửa

Trị bệnh: Ói, mửa

HUYỆT SỐ: 19, 0, 124, 34, 50

1-    Phỏng nước sôi, phỏng lửa



TRỊ BỆNH: PHỎNG NƯỚC SÔI, PHỎNG LỬA

HUYỆT SỐ: 61, 60, 29, 85, 14, 15, 16, 17, 38, 0

1-    Rắn, rít cắn, ông đánh, bò cạp chích

TRỊ BỆNH: RẮN, RÍT CẮN, ONG ĐÁNH, BÒ CẠP CHÍCH

HUYỆT SỐ: 124, 34, 26, 3, 85, 143, 38, 17, 467, 28, 132, 275, 50.

2-    Sổ mũi

TRỊ BỆNH: SỔ MŨI

HUYỆT SỐ: 0, 3, 7, 16, 126, 37, 87, 127, 275.

3-    Suyễn hàn

TRỊ BỆNH: SUYỂN HÀN

HUYỆT SỐ: 17, 19, 61, 491, 467, 28, 275, 240

4-    Suyễn nhiệt

TRỊ BỆNH: SUYỂN NHIỆT

HUYỆT SỐ: 26, 3, 51, 87, 85, 21, 275, 14, 312

5-    Suy nhược thần kinh

TRỊ BỆNH: SUY NHƯỢC THẦN KINH

HUYỆT SỐ: 22, 127, 19, 50, 1, 188, 106, 34, 124, 0, 103

6-    Suy nhược sinh dục (yếu sinh lý) và Dương suy

TRỊ BỆNH: SUY NHƯỢC SINH DỤC (yếu sinh lý) và DƯƠNG SUY.

HUYỆT SỐ: -300+, 63, 7, 127, 0 (BQC) Liệt dương, yếu sinh lý.

          -300, 360, 73, 1, 37, 17, 63, 7, 19, 170, 0, 127, 156.

7-    Sưng bì dái

TRỊ BỆNH: SƯNG BÌ DÁI

HUYỆT SỐ: 63, 7, 17, 287

8-    Sưng vú, tắc tia sữa

TRỊ BỆNH: SƯNG VÚ, TẮC TIA SỮA

HUYỆT SỐ: 26, 60, 39, 38, 3, 73, 51, 50

Bệnh theo vần T

1-    Tiêu viêm, tiêu độc

TRỊ BỆNH: TIÊU VIÊM, TIÊU ĐỘC

HUYỆT SỐ: 41, 143, 19, 127, 38, 37

2-    Tăng sức lực và giúp trí nhớ

TRỊ BỆNH: TĂNG SỨC LỰC VÀ GIÚP TRÍ NHỚ

3-    Tim đập chậm

TRỊ BỆNH: TIM ĐẬP CHẬM

HUYỆT SỐ: 0, 19, 60, 28, 106

4-    Tim đập nhanh, đập mạnh và thở gấp

TRỊ BỆNH: TIM ĐẬP NHANH, ĐẬP MẠNH VÀ THỞ GẤP

HUYỆT SỐ: 0, 57, 106, 34

5-    Tưc ngực – khó thở - nhói tim

TRỊ BỆNH: TỨC NGỰC – KHÓ THỞ - NHÓI TIM

HUYỆT SỐ: 73, 3, 28, 61, 57, 269, 189

6-    Tai điếc, tai ù, tai lùng bùng

TRỊ BỆNH: Tai điếc, tai ù, tai lùng bùng.

HUYỆT SỐ: 65, 179, 130, 45, 235, 139, 57, 0, 15.

7-    Thị lực kém

TRỊ BỆNH: THỊ LỰC KÉM (Blurred vision)

HUYỆT SỐ: 6, 34, 130, 3

8-    Tiểu ít

TRỊ BỆNH: TIỂU ÍT

HUYỆT SỐ: 29, 85, 87, 235

9-    Tiểu nhiều

TRỊ BỆNH: TIỂU NHIỀU

HUYỆT SỐ: 89, 19, 1, 0, 37, 103

10- Tiểu không cầm được

TRỊ BỆNH: TIỂU KHÔNG CẦM ĐƯỢC

HUYỆT SỐ: 87, 50, 37, 1, 0, 103, 126

11- Tiểu đêm

TRỊ BỆNH: TIỂU ĐÊM

HUYỆT SỐ: 0, 37, 45, 30

12- Tiểu gắt, tiểu rát

TRỊ BỆNH: TIỂU GẮT, TIỂU RÁT (Burning urination)

HUYỆT SỐ: 26, 3, 38, 85, 87

13- Trị sạn trong thận

TRỊ BỆNH: TRỊ SẠN TRONG THẬN

HUYỆT SỐ: 41, 19, 143, 127, 38, 0

CÁCH TRỊ: Lấy trái khóm cắt 1 chút và nhét phèn chua vào (phèn chua cỡ 2 phần ngón tay út) rồi đem nướng cho cháy đen, xong vắt lấy nước chia ra uống trong 3 ngày. Bắn súng điện, dán cao trong 3 ngày.

14- Trĩ và hậu môn

TRỊ BỆNH: TRĨ VÀ HẬU MÔN

HUYỆT SỐ: 19, 103, 143, 365. Nếu có chảy máu cộng thêm huyệt 61, 38, 16.

15- Táo bón

TRỊ BỆNH: TÁO BÓN (Constipation)

HUYỆT SỐ: 41, 50, 38, 97, 98.
_______________________________________________________________________

Các tên bệnh theo vần M->N:

Bệnh theo vần M

1-    Mụn cóc

HUYỆT SỐ: 26, 8, 3, 37, 50, 51, 0

2-    Mụn lẹo

HUYỆT SỐ: 283, 38, 3, 215

3-    Mắt cổ

HUYỆT SỐ: 19, 14, 63 (Bấm mạnh)

4-    Mỡ cao trong máu

HUYỆT SỐ: 233, 41, 50, 37, 38, 39, 7, 113, 85

NÊN DÙNG: Beans (đậu) walnuts oats (trái hồ đào) và đậu đen,

GHI CHÚ: mỡ cao trong máu có liên hệ chặt chẻ với chứng bệnh cao huyết áp, bệnh tim, đái đường, bệnh mạch máu não.

5-    Méo miệng

HUYỆT SỐ: 308, 88, 94, 19, 29, 405, 108, 3, 222, 127

6-    Mồ hôi tay chân

HUYỆT SỐ: 50, 60, 61, 16, 0, 124, 156

7-    Mất ngủ

HUYỆT SỐ: 124, 34, 267, 217, 16, 14, 51

Bệnh theo vần N

1-    Nhức đỉnh đầu

HUYỆT SỐ: 103, 50, 87, 51, 61, 127, 19, 37.

2-    Nhức đầu một bên

HUYỆT SỐ: 41, 184, 100, 180, 61, 3, 54, 55, 56, 51

3-    Nhức trán

HUYỆT SỐ: 103, 106, 60, 127, 51, 61, 26.

4-    Nhức răng

HUYỆT SỐ: 34, 60, 57, 180, 0, 188, 196

5-    Nghẹt mũi

HUYỆT SỐ: 3-23-60-61-432

6-    Ngất xỉu, trúng gió nặng

HUYỆT SỐ: 19, 127, 60, 0, 312, 275, 14, 79, 57, 132.

CÁCH TRỊ: trước hết ấn mạnh các huyệt: 19, 127, 60, 0. Đồng thời xoa dầu (cạo) hai lòng bàn tay và chân cho ấm để trị ngất xỉu và trúng gió. Sau đó dùng ngải cứu hơ các huyệt 312, 275, 14, 79, 57, 132 để trị long đờm, tắc nghẽn, thông khí, đồng thời trị lưỡi, cứng hàm . .v v. Nếu nói chưa được, hơ huyệt 312, 79, 57, 14 để trị đớ lưỡi cứng hàm. Thoa dầu cạo gió trước ngực và sau lưng.

7-    Ngất xỉu – Kinh phong

HUYỆT SỐ: 103, 124, 34, 1, 61, 0, 19, 127

8-    Ngứa ngoài da

HUYỆT SỐ: 17, 7, 50, 3, 61, 41, 38, 0

9-    Nấc cục

HUYỆT SỐ: 19, 74, 26, 312, 61, 39

10- Nổi mề đay

HUYỆT SỐ: 61, 3, 184, 50, 87
________________________________________________________________________


Các tên bệnh theo vần U -> V:

Bệnh theo vần U 1- Ung thư vú và ngực Trị bệnh: Ung thư vú và ngực (Cancer breast & chest) Huyệt số: 41, 143, 19, 127, 3, 37, 60, 73. Dây, ấn, dán

Bệnh theo vần V

1-    Viêm mũi dị ứng

TRỊ BỆNH: VIÊM MŨI DỊ ỨNG

HUYỆT SỐ: -39, 49, 65, 103, 184, 12.

2-    Viêm mũi dị ứng thể hàn

TRỊ BỆNH: VIÊM MŨI DỊ ỨNG THỂ HÀN (trị từ dưới lên trên)

HUYỆT SỐ: 127, 38, 19, 37, 1, 61, 73, 189, 103, 300, 0.

GHI CHÚ: - Hơ hoặc sức dầu sống đầu, sống trán, sống mũi, sống tay, sống bàn chân (ngón cái đi xuống).

-       Phát đồ nầy trị luôn Suyễn Hàn và dị ứng da ngứa.

3-    Viêm dị ứng thể nhiệt

TRỊ BỆNH: VIÊM MŨI DỊ ỨNG THỂ NHIỆT (trị từ trên xuống dưới)

HUYỆT SỐ: 124, 34, 26, 61, 3, 143, 38, 222, 156, 87

GHI CHÚ: - Nếu nặng lấy cây lăn gai, lăn các vùng phản chiếu: sống đầu, sống mũi, sống tay, sống chân.

4-    Phát đồ nầy trị luôn Suyển nhiệt và dị ứng da ngứa.

5-    Viêm tai giữa

TRỊ BỆNH: VIÊM TAI GIỮA (Có chảy mủ) (Ears with pus)

HUYỆT SỐ: -16, 138, 0, 14, 61, 37, 38, 17, 1

6-    15, 15, 16, 0 (BQC)

7-    Viêm amidan, viêm họng

TRỊ BỆNH: VIÊM AMIDAN, VIÊM HỌNG (Sore throat)

HUYỆT SỐ: 14, 275, 38, ,61, 8

8-    Viêm cổ tử cung

TRỊ BỆNH: VIÊM CỔ TỬ CUNG (Cervicitis)

HUYỆT SỐ: 87, 63, 17, 38, 50

9-    Viêm gan, sơ gan, ung thư gan

TRỊ BỆNH: VIÊM GAN, SƠ GAN, UNG THƯ GAN (Inflammation liver, cirrhosis, cancer liver)

HUYỆT SỐ: 143, 41, 19, 127, 37, 38, +124.

NÊN DÙNG: Đậu đen, trái khổ qua hoặc chè đậu đen, trà khổ qua, bắp cải. (black bean, bitter melon or gohyah tea, cabbage artichaut).

10- Viêm gan mãn tính

TRỊ BỆNH: VIÊM GAN MÃN TÍNH (Inflammation Liver)

HUYỆT SỐ: 41, 50, 233, 58, 37, 19, 127, 87

NÊN DÙNG: Đậu đen, trái khổ qua hoặc chè đậu đen trà khổ qua và bắp cải.

11- Viêm tuyến tiền liệt

TRỊ BỆNH: VIÊM TUYẾN TIỀN LIỆT (Prostatitis)

HUYỆT SỐ: 34, 477, 240, 287, 19, 85, 87 (Nếu mản tính thêm huyệt Hội Âm)

NÊN DÙNG: Đậu xanh (Blueberry) –dâu đỏ (Cranberry) cà tím (Eggplant) cà chua (Tomatoes) rau cần tây (parsley).

12- Vợp bẻ

TRỊ BỆNH: VỢP BẺ (Cramp)

HUYỆT SỐ: 34, 6, 127, 19, 61, 107

13- Vôi trong cột xương sống

TRỊ BỆNH: VÔI TRONG CỘT XƯƠNG SỐNG

HUYỆT SỐ: 41, 19, 143, 127, 63, 219 (Dán salongpas) cạo sống đầu, sống mũi, sống tay, sống lưng.

GSTSKH. Bùi Quốc Châu