Bài đăng nổi bật

52 phác đồ Diện Chẩn thường dùng

52 phác đồ Diện Chẩn thường dùng  "52 Phác đồ Diện Chẩn thường dùng" vừa là các phác đồ hỗ trợ, vừa là các phác đồ điều t...

Hiển thị các bài đăng có nhãn Sống khỏe. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sống khỏe. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 17 tháng 5, 2016



DIỆN CHẨN NÂNG CAO




TIẾT THỰC (NHỊN ĐÓI) ĐỂ CHỮA BỆNH - P1



TIẾT THỰC (NHỊN ĐÓI) ĐỂ CHỮA BỆNH - P2




TIẾT THỰC (NHỊN ĐÓI) ĐỂ CHỮA BỆNH - P3



TIẾT THỰC (NHỊN ĐÓI) ĐỂ CHỮA BỆNH - P4





TIẾT THỰC (NHỊN ĐÓI) ĐỂ CHỮA BỆNH - P5






THỂ DỤC TỰ Ý 01






THỂ DỤC TỰ Ý 02










Thứ Tư, 6 tháng 1, 2016

CHÂM KIM HOA MAI (MAI HOA CHÂM)

Mục tiêu 
1. Trình bày được kỹ thuật gõ kim hoa mai và cơ sở lý luận của phương pháp.
2. Liệt kê được các đường gõ kim hoa mai trong gõ vùng thường quy.
3. Liệt kê được các đường gõ kim hoa mai trong gõ vùng đầu mặt cổ, vùng chi trên, vùng chi dưới, vùng ngực, vùng bụng và lưng.
4. Trình bày được chỉ định và chống chỉ định của gõ kim hoa mai.
5. Nêu được những phản ứng phụ của kim hoa mai và cách xử lý.
I. Đại cương 
Gõ kim hoa mai là phương pháp dùng kim hoa mai (5 - 7 chiếc kim nhỏ cắm vào đầu một cán gỗ), gõ trên mặt da, nhằm mục đích chữa bệnh hoặc phòng bệnh. Đây là một hình thức phát triển của châm cứu.
II. Lịch sử phát triển của châm kim hoa mai 
Sách Linh khu, thiên Quan kim có ghi lại một vài phương pháp kích thích nhẹ trên da như:
− Bán thích: dùng kim châm nông rồi rút kim ngay, không làm thương tổn đến cơ thịt; có cảm giác như nhổ một sợi tóc.
− Báo văn thích: châm nông tại chỗ đau 4 điểm (phía trên, phía dưới, bên phải, bên trái).
− Dương thích: châm nông tại chỗ đau như báo văn thích, thêm một điểm ở chính giữa.
Về sau dựa vào cách châm nông và nhiều điểm tại chỗ đau, các nhà châm cứu dùng 5 - 7 cây kim bó chụm lại cắm ở đầu một cán gỗ (để tiện cầm) và châm nông trên mặt da. Đây là hình thức đầu tiên của kim hoa mai.
Kim hoa mai ngày nay được cải tiến và thường có hai loại:
+ Loại kim chụm.
+ Loại kim xòe hình gương sen.
III. Cách làm kim hoa mai đơn giản 
Dùng 5 - 7 chiếc kim bằng thép không rỉ, mũi kim không quá sắc nhọn, dài độ 2cm, bó chụm lại, đầu nhọn các kim nằm trên một mặt phẳng, cắm chặt và thẳng góc vào đầu một cán gỗ dài độ 25cm, cách đầu cán độ 1cm. Chuôi cán hơi to hơn một chút để dễ cầm.
IV. Cách cầm kim hoa mai 
Ngón tay cái và giữa cầm chặt ở 1/3 cán kim, ngón nhẫn và út đỡ thân cán vào lòng bàn tay, ngón trỏ đặt trên cán kim.
Lúc gõ chủ yếu là cử động nhịp nhàng của cổ tay, trục bó kim tiếp xúc thẳng góc với mặt da.

Hình 12.1. Các loại kim hoa mai và cách cầm kim
V. Cơ sở lý luận của gõ kim hoa mai 
Người xưa quan niệm rằng mặt da của cơ thể là một bộ phận của kinh lạc, chia thành 12 vùng có liên quan đến sự phân bố của 12 đường kinh mạch, tức 12 khu da (bì bộ).
 “Muốn biết khu da phải lấy đường tuần hành của kinh mạch làm gốc, các đường kinh đều như thế cả”“Bì bộ dĩ kinh mạch vi kỳ” (Tố vấn - Bì bộ luận).
 “Những hiện tượng của kinh mạch đều thể hiện ra ở mặt da; vì thế, khu da là phần ngoài da của kinh mạch” (Trương Cảnh Nhạc).
Các kinh mạch đều tuần hành ở sâu trong cơ, không chạy trên mặt da, nhưng các lạc mạch của chúng được phân bố khắp mặt da. Mỗi đường kinh có một khu da riêng, 12 đường kinh có 12 khu da (bì bộ). Mỗi khu da đều có liên quan đến kinh mạch và tạng phủ có quan hệ với nó.
Vì “Da là bộ phận của hệ kinh mạch. Ngoại tà xâm phạm vào da làm cho tấu lý mở ra. Trước tiên lạc mạch bị xâm phạm. Nếu tà khí tràn đầy lạc mạch sẽ tiếp tục tràn vào kinh mạch. Nếu kinh mạch lại bị tà khí tràn ngập thì sẽ truyền sâu vào tạng phủ” (Tố vấn - Bì bộ luận).
Như vậy tà khí xâm phạm vào da trước rồi theo đường kinh lạc dẫn truyền vào tạng phủ.
Mặt khác, bệnh tật từ nội tạng phát sinh ra thì cũng theo đường kinh lạc từ nội tạng chuyển ra ngoài da, thể hiện bằng những phản ứng bệnh lý như xuất hiện những vùng đau nhức, các điểm ấn đau, mẩn ngứa, thay đổi màu da v. v.
Như vậy, nhờ sự liên quan mật thiết giữa da và nội tạng mà bệnh tật được truyền từ da vào nội tạng và ngược lại từ nội tạng ra ngoài da thông qua đường tuần hành kinh mạch.
Gõ kim hoa mai có tác dụng thông qua hệ kinh lạc, quan hệ giữa da và tạng phủ mà điều hòa dinh vệ, khí huyết; lặp lại thăng bằng âm dương, tăng cường sức đề kháng của cơ thể để phòng và chữa bệnh.
VI. Tư thế thầy thuốc và người bệnh 
− Người bệnh có thể ngồi hoặc nằm, tư thế phải thoải mái dễ chịu.
− Ngồi khom lưng và hơi cúi đầu là hai tư thế thuận lợi nhất để gõ vùng thường quy và vùng chẩm, gáy.
− Thầy thuốc có thể đứng cạnh giường hoặc ghế người bệnh, cũng có thể ngồi ghế cạnh giường người bệnh.
− Giường bệnh nên đặt cách xa tường để thầy thuốc có thể đi lại xung quanh, thuận lợi cho thao tác.
VII. Các vùng điều trị trên cơ thể 
Ngoài cách chia mặt da ra thành 12 khu như theo kiểu kinh điển, người ta còn quy ước một sự phân chia khác để tiến hành điều trị như sau
A. Vùng thường quy
Được gọi là thường quy vì đây là vùng mà người thầy thuốc khi tiến hành điều trị đều sử dụng trước tiên. Tác dụng của động tác này là “phù chính để khu tà”.
Những công trình nghiên cứu về tác dụng của thủ thuật này của Trung Quốc (trên súc vật thí nghiệm) và Việt Nam (trên người) cho thấy gõ thường quy mai hoa châm làm tăng phản ứng không đặc hiệu của cơ thể chống vi trùng.
Đường kích thích:
− Bốn đường dọc, mỗi bên cột sống hai đường:
+ Đường trong theo dọc các huyệt hoa đà hai từ ngang huyệt đại chùy đến huyệt hạ liêu.
+ Đường ngoài theo dọc từ bờ trong xương bả vai xuống đến huyệt trật biên.
− Mười đường ngang khoảng cách mỗi đường là hai đốt sống lưng.
Tác dụng điều trị: điều hoà dinh, vệ, khí, huyết làm cho âm dương thăng bằng, tăng cường sức đề kháng cơ thể.
Những tài liệu sau này có đề cập đến vùng gõ thường quy được đơn giản bớt còn 3 đường dọc theo lưng:

Hình 12.2. Vùng gõ thường quy
Đường thứ nhất dọc theo đường giữa lưng.
Đường thứ hai là hai đường chạy dọc theo hai kinh Bàng quang 1.
B. VùNG ĐầU MặT
1. Khu trán 
− Đường kích thích: 3 đường ngang song song từ phải qua trái hoặc ngược lại.
− Điều trị: chứng nhức đầu thuộc kinh dương minh (Đại trường và Vị), bệnh tại chỗ.
2. Khu trước đỉnh đầu và hai bên đầu 
− Đường kích thích: 3 - 4 đường ngang từ chân tóc bên phải sang chân tóc bên trái hoặc ngược lại.
− Điều trị: bệnh thiên đầu thống, bệnh tai, mắt, mũi và chứng nhức đầu thuộc kinh thiếu dương (Tam tiêu và Đởm).
3. Khu đỉnh đầu (vùng huyệt bách hội và huyệt tứ Thần thông, chạy ra hai bên chỏm tai)
− Đường kích thích:
+ 3 - 4 đường vòng tròn quanh huyệt bách hội.
+ 3 - 4 đường ngang từ chỏm tai phải sang chỏm tai trái, hoặc ngược lại.
− Điều trị: nhức đầu, hoa mắt, chóng mặt, trúng phong, cấm khẩu; các bệnh thuộc can dương hỏa vượng, thận thủy suy kém, hư hỏa thượng xung.
4. Khu sau đầu 
− Đường kích thích: 5 - 7 đường dọc từ ngang huyệt Hậu đỉnh đến chân tóc sau gáy.
− Điều trị: chứng nhức đầu sau gáy, cứng gáy, bệnh tai, mũi, họng, lưỡi và bệnh thuộc kinh Bàng quang.

Hình 13.3. Gõ vùng đầu mặt cổ
5. Khu mắt 
− Đường kích thích:
+ 1 - 2 đường cong dọc bờ mi trên.
+ 1 - 2 đường cong dọc bờ mi dưới, đều từ trong ra ngoài.
Điều trị: các bệnh về mắt.
6. Khu mũi 
− Đường kích thích: hai đường từ huyệt tình minh dọc theo bờ mũi đến cánh mũi.
− Điều trị: các bệnh cấp tính hoặc mạn tính về mũi.
7. Khu môi 
− Đường kích thích: 1 - 2 đường cong song song quanh môi trên và môi dưới.
− Điều trị: bệnh răng, hàm mặt, miệng, lưỡi.
8. Khu gò má 
− Đường kích thích: hai đường từ huyệt nghinh hương bên ngoài cánh mũi chạy vòng bên dưới xương gò má đến huyệt thính cung (bình tai).
− Điều trị: các bệnh ở mặt, răng, mũi và liệt dây Thần kinh VII.
9. Khu tai 
− Đường kích thích: 1 - 2 đường vòng quanh lỗ tai, bắt đầu từ huyệt thính cung vòng lên trên, ra sau tai, vòng xuống qua huyệt ế phong rồi vòng ngược lên thính cung.
− Điều trị: bệnh về tai.
10. Khu thái dương 
− Đường kích thích: 3 - 4 đường từ ngang huyệt nhĩ môn tỏa ra thành hình nan quạt.
− Điều trị: bệnh thuộc kinh thiếu dương Đởm, thiên đầu thống; bệnh về tai, mắt.
C. Vùng cổ
1. Khu sau gáy 
− Đường kích thích (5 đường):
+ Một đường giữa chân tóc gáy đến huyệt đại chùy.
+ Hai đường cạnh dọc theo kinh Bàng quang từ chân tóc đến huyệt đại trữ.
+ Hai đường dọc theo kinh Đởm từ huyệt phong trì đến huyệt kiên tỉnh.
− Điều trị: dây là khu trọng điểm; chủ yếu chữa các bệnh đau đầu, bệnh về tai mũi họng và chứng cảm sốt, cứng gáy.
2. Khu trước cổ 
Đường kích thích: mỗi bên cổ 1 - 2 đường từ dưới hàm đến ngang huyệt khí xá.
− Điều trị: bệnh ở cổ họng như viêm họng, viêm amiđan, bướu cổ và bệnh cao huyết áp.
3. Khu cơ ức đòn chũm 
− Đường kích thích: 1 - 2 đường từ chân tóc sau gáy chạy dọc xuống theo cơ ức đòn chũm.
− Điều trị: bệnh ở cổ họng, lưỡi và bệnh lao hạch (tràng nhạc).
D. VùNG CHI TRêN
Chi trên chia làm hai khu: mé trong tay và khu mé ngoài tay (theo tư thế đứng buông thõng tay, lòng bàn tay áp vào đùi, ứng với mặt trước và mặt sau của tay).
1. Khu trong cánh tay 
− Đường kích thích: ba đường dọc từ bờ dưới nách đến ngang khuỷu tay.
− Điều trị: bệnh thuộc các tạng tâm, phế; đau dọc tay và khuỷu tay.
2. Khu trong khuỷu tay 
− Đường kích thích: 3 đường ngang song song từ huyệt khúc trì đến huyệt tiểu hải hoặc ngược lại.
− Điều trị: đau nhức vùng khuỷu tay, đau cánh tay, cẳng tay và chứng sốt nóng.
3. Khu trong cẳng tay 
− Đường kích thích: ba đường dọc từ khuỷu tay đến bàn tay.
− Điều trị: bệnh thuộc tâm, phế; bệnh ở ngực; đau nhức dọc cẳng tay.
4. Khu trong cổ tay 
− Đường kích thích: hai đường ngang song song tại lằn chỉ cổ tay − Điều trị: bệnh thuộc tâm, phế; bệnh ở họng; đau nhức cổ tay.
5. Khu gan bàn tay 
− Đường kích thích: năm đường ngang lằn chỉ cổ tay tỏa ra đến tận các ngón tay.
− Điều trị: bệnh ở vùng ngực, họng, sốt âm, bệnh tay và đau nhức ở gan bàn tay.
6. Khu ngoài cánh tay 
− Đường kích thích: ba đường dọc từ vai đến khuỷu tay.
Điều trị: bệnh ở đầu, gáy, bả vai; đau nhức dọc cánh tay.

Hình 12.4. Vùng gõ mặt trong chi trên và Hình 12.5. Vùng gõ gan bàn tay
7. Khu ngoài cẳng tay 
− Đường kích thích: ba đường dọc từ khu ngoài khuỷu tay đến cổ tay.
− Điều trị: các bệnh về tai, mũi, họng, đầu mặt, bệnh lây, sốt nóng thuộc kinh thiếu dương (Tam tiêu).
8. Khu mu bàn tay 
− Đường kích thích: 4 đường từ cổ tay tỏa ra đến các khe ngón tay (dọc theo khe xương bàn tay).
− Điều trị: bệnh ở đầu, mặt, tai, mắt, mũi họng, răng, hàm và chứng sốt nóng.
 
Hình 12.6. Vùng gõ mặt ngoài chi trên và Hình 12.7. Vùng gõ lưng bàn tay
9. Khu ngón tay 
− Đường kích thích: mỗi bên ngón tay một đường dọc, từ đầu trên đốt 1 đến đầu ngón tay.
− Điều trị: bệnh não và bệnh Thần kinh nói chung.
E. VùNG CHI DướI
Chi dưới được chia làm 4 khu: khu mé trong, khu mé ngoài, khu trước và sau chân.
1. Khu đùi trước 
− Đường kích thích: đường dọc từ nếp bẹn đến bờ trên xương bánh chè.
− Điều trị: bệnh thuộc đại trường, tiểu trường; đau nhức mặt trước đùi, đầu gối và bệnh thuộc kinh dương minh (Vị).
2. Khu trước cẳng chân 
− Đường kích thích: 3 đường dọc từ đầu gối xuống trước cổ chân.
− Điều trị: bệnh thuộc tạng Phế, phủ Vị, bệnh đường ruột, bệnh ở đầu và ngực nói chung, chủ yếu là bệnh thuộc dương minh (Vị).
3. Khu sau đùi và vùng khoeo chân − Đường kích thích:
+ Ba đường dọc từ nếp lằn mông đến khoeo
+ Ba đường song song qua lại ngang lằn chỉ khoeo chân.
− Điều trị: bệnh ở lưng, bệnh trĩ, bệnh đường ruột.
4. Khu sau cẳng chân 
− Đường kích thích: ba đường dọc từ khoeo đến sau cổ chân.
− Điều trị: bệnh ở lưng, bệnh đường ruột, bệnh trĩ và đau nhức sau cẳng chân.
5. Khu mé trong đùi và cẳng chân − Đường kích thích:
+ Ba đường dọc từ nếp bẹn xuống mé trong đầu gối.
+ Tiếp đó là ba đường dọc chạy xuống dọc mé trong cẳng chân xuống cổ chân.
− Điều trị: bệnh thuộc hệ sinh dục, tiết niệu, bệnh đường ruột và đau nhức mé trong cẳng chân.
6. Khu mé ngoài đùi và cẳng chân 

Hình 13.8. Vùng gõ chi dưới
− Đường kích thích:
+ Ba đường dọc từ đầu trên xương đùi đến mé ngoài đầu gối.
+ Tiếp đó là 3 đường dọc chạy xuống mé ngoài cổ chân.
− Điều trị:
+ Đoạn trên: bệnh bại liệt, phong thấp, đau phía ngoài đùi.
+ Đoạn dưới: chứng nhức đầu, đau bụng, bệnh ở mắt, tai, họng sườn và bệnh thuộc kinh thiếu dương (Đởm) nói chung.
7. Khu trước cổ chân và mu chân − Đường kích thích:
− Ba đường ở ngang trước cổ chân.
− Bốn đường hình nan quạt từ cổ chân tỏa ra đến các khe ngón chân dọc các khe xương bàn chân.
− Điều trị: bệnh ở đầu, mặt, răng, hàm, họng, đau nhức vùng cổ chân và mu bàn chân.
8. Khu gan bàn chân 
− Đường kích thích: từ hai huyệt dũng tuyền tỏa ra hai bên đến gót chân.
− Điều trị: chứng âm hư và bệnh suy nhược Thần kinh.

Hình 13.9. Vùng gõ bàn chân
9. Khu xương bánh chè 
− Đường kích thích: hai đường vòng quanh xương bánh chè
− Điều trị: đau nhức gối, bệnh cước khí.
10. Khu mắt cá trong và ngoài 
− Đường kích thích: hai đường vòng quanh mắt cá trong và ngoài.
− Điều trị: đau khớp cổ chân, sưng đau mắt cá chân, chứng sốt nóng.
F. VùNG NGựC
1. Khu xương ức 
− Đường kích thích: hai đường dọc ở hai bên xương ức.
− Điều trị: bệnh ở thực quản, phế quản, tim, phổi và chứng khí thượng xung.

Hình 13.1. Vùng gõ mặt trước thân
2. Khu lồng ngực 
− Đường kích thích: mỗi khoảng liên sườn 1 - 2 đường.
− Điều trị: viêm đau tuyến vú, tắc tia sữa.
G. Vùng bụng
1. Khu bụng trên 
− Đường kích thích:
+ Năm đường dọc từ bờ dưới cung sườn đến rốn (một đường giữa bụng và mỗi bên hai đường dọc song song).
+ Bốn đường ngang chia đều vùng bụng trên từ phải qua trái hoặc ngược lại.
− Điều trị: bệnh thuộc bộ máy tiêu hóa và chứng phù thũng.
2. Khu bụng dưới 
− Đường kích thích:
+ Năm đường dọc nối tiếp 5 đường dọc ở vùng bụng trên từ ngang rốn đến xuống nếp bẹn và xương mu.
+ Ba đến bốn đường ngang.
− Điều trị: bệnh thuộc bộ máy sinh dục và tiết niệu, tăng cường sức khỏe cơ thể.
3. Khu nếp bẹn 
− Đường kích thích: mỗi bên hai đường song song chạy dọc theo nếp bẹn từ trên xuống dưới.
− Điều trị: bệnh thuộc hệ sinh dục và tiết niệu.
H. VùNG LưNG
Vùng lưng chia làm 5 khu, mỗi khu có tác dụng điều trị riêng.
1. Khu lưng trên (D1 - D7) 
− Đường kích thích: 4 đường dọc như vùng gõ thường quy và cách mỗi đốt sống lưng là một đường ngang.
− Điều trị: đây là khu trọng điểm 2; khu này dùng để điều trị bệnh tim, phổi, đau tức ngực và đau nhức dọc chi trên.
2. Khu lưng giữa (D8 - D12) 
− Đường kích thích: 4 đường dọc như vùng gõ thường quy và cách mỗi đốt sống lưng là một đường ngang.
− Điều trị: đây là khu trọng điểm 3, điều trị bệnh hệ tiêu hóa và bệnh tăng huyết áp thể can dương hỏa vượng.
3. Khu lưng dưới (L3 - L5) 
− Đường kích thích: 4 đường dọc như vùng gõ thường quy và cách mỗi đốt sống lưng là một đường ngang.
− Điều trị: đây là khu trọng điểm 4; khu này dùng để điều trị các bệnh thuộc hệ sinh dục, tiết niệu và đau nhức dọc chi dưới.
4. Khu xương bả vai 
− Đường kích thích: hai đường vòng quanh xương bả vai.
− Điều trị: đau nhức xương bả vai và dọc chi trên.
5. Khu cơ thang và trên vai 
− Đường kích thích: mỗi bên 3 đường từ ngang D1, D2, D3 tỏa lên vùng cổ, gáy.
− Điều trị: cứng gáy, đau đầu, đau viêm tuyến vú.
VIII. Áp dụng vào điều trị 
A. Chỉ định và chống chỉ định 
Nói chung là gõ kim hoa mai có thể dùng chữa trị các loại bệnh như hào châm vẫn thường làm.
Phương pháp này tỏ ra thích hợp nhất đối với các loại bệnh: suy nhược Thần kinh, đau đầu, mất ngủ, đau dây Thần kinh liên sườn, liệt dây Thần kinh VII, cơn đau dạ dày tá tràng, tiêu hóa kém, đau bụng lúc hành kinh, đái dầm, sa trực tràng, sạm da, mẩn ngứa ngoài da bị viêm loét chảy nước vàng hoặc chảy mủ.
B. Thủ thuật gõ kim hoa mai 
Có ba cách gõ: gõ nhẹ, gõ vừa và gõ mạnh.
− Gõ nhẹ: gõ rất nhẹ nhàng trên mặt da, hoàn toàn không đau. Bệnh nhân cảm thấy thoải mái và dễ chịu. Thủ thuật này có tác dụng bổ, tăng sức khỏe cho bệnh nhân, thường dùng cho chứng hư hàn.
− Gõ vừa: gõ vừa sức không nhẹ, không mạnh, có tác dụng bình bổ tả. Cách này thường dùng trong các chứng bán biểu, bán lý, không hư, không thực.
− Gõ mạnh: sức bật của cổ tay khỏe hơn, tuy thế bệnh nhân vẫn đủ sức chịu đựng, có tác dụng tả, thích ứng với các chứng thực nhiệt.
C. Trình tự gõ kim hoa mai 
Cần gõ theo một thứ tự nhất định:
− Trước hết gõ vùng thường quy.
− Rồi gõ khu trọng điểm.
− Cuối cùng gõ khu kết hợp.
Trường hợp trong công thức điều trị không có thường quy mà chỉ có khu trọng điểm và khu kết hợp thì gõ khu trọng điểm trước, khu kết hợp sau.
Trường hợp gõ theo vùng thì gõ vùng đầu và vùng lưng trước, gõ vùng ngực, bụng, chân sau.
Trường hợp gõ vùng đầu thì gõ khu trán trước, rồi gõ khu thái dương, khu đỉnh đầu và sau cùng gõ khu chẩm.
D. Phản ứng phụ và cách xử lý 
Điều trị bằng gõ kim hoa mai rất an toàn. Nhưng cũng có trường hợp say kim (vựng châm), khi người bệnh quá hư yếu hoặc Thần kinh quá mẫn; bệnh nhân bị suy tim hoặc gõ kim lúc người bệnh quá no hoặc quá đói.
Trong những trường hợp này: cho người bệnh uống nước đường nóng hoặc nước chè nóng. Đặt nằm sấp, gõ nhẹ ở khu thắt lưng mỗi đường gõ 10 lần theo hướng ngược từ dưới lên trên.
Trường hợp da người bệnh quá bẩn, lúc gõ lại không sát trùng bằng cồn nên có thể gây nên những nốt đỏ như bị sởi: cho người bệnh tạm nghỉ điều trị, chăm sóc da vùng nổi mẩn.
E. Một số điểm cần chú ý
− Thầy thuốc cần thường xuyên kiểm tra kim hoa mai xem các mũi kim có móc câu không, nếu có cần vuốt nắn lại.
− Lúc gõ nên hỏi người bệnh có đau nhiều không? mức độ đau như thế nào? Cần có sự phối hợp giữa thầy thuốc và người bệnh.
− Không được gõ vùng bị sẹo, có vết thương hoặc bị lở loét.
− Trước khi gõ nên khử trùng kim, phải sát trùng chỗ gõ trước và sau khi gõ.
F. Một số công thức điều trị 
Căn cứ vào tác dụng điều trị của từng khu, từng vùng và lý luận điều trị biện chứng của Đông y, có thể dùng gõ kim hoa mai để chữa một số bệnh theo công thức như sau
1. Bệnh hô hấp 
− Vùng thường quy: gõ vừa.
− Khu trọng điểm: khu lưng trên.
− Khu kết hợp: khu ngực, có thể thêm khu trong cẳng tay, gõ 3 đường dọc từ khuỷu tay xuống đến cổ tay.
2. Bệnh thần kinh 
− Vùng thường quy.
− Khu trọng điểm: Khu sau gáy, khu lưng dưới.
− Khu kết hợp: vùng đầu, khu trong cẳng tay, khu trong cẳng chân.
3. Bệnh tiêu hóa 
− Vùng thường quy.
− Khu trọng điểm: khu lưng giữa.
− Khu kết hợp: khu bụng trên, khu trước cẳng chân.
4. Bệnh hệ vận động 
− Vùng thường quy.
− Khu trọng điểm:
+ Đau 2 chi trên thì gõ khu lưng trên.
+ Đau 2 chi dưới thì gõ khu lưng dưới.
− Khu kết hợp: vùng đau.
5. Bệnh hệ tuần hoàn − Vùng thường quy.
− Khu trọng điểm: khu lưng trên.
− Khu kết hợp: khu trong tay và trong chân.
6. Bệnh hệ tiết niệu và sinh dục − Vùng thường quy.
− Khu trọng điểm: khu dưới lưng.
− Khu kết hợp: khu bụng dưới, khu trong cẳng chân, khu nếp bẹn.
7. Bệnh nội tiết 
− Vùng thường quy.
− Khu trọng điểm: khu lưng giữa hoặc lưng dưới.
− Khu kết hợp: khu trong cẳng chân.
8. Bệnh ngoài da 
− Bệnh ở 2 chi trên: gõ tại chỗ, khu lưng trên và 2 khu trong khuỷu tay.
− Bệnh ở hai chi dưới: gõ tại chỗ, khu lưng dưới và 2 khu khoeo chân.
− Bệnh ở lưng và bụng ngực: gõ tại chỗ, vùng thường quy, khu trong khuỷu tay và khu khoeo chân.
− Nếu chỗ bị bệnh chảy nước vàng hay lở loét thì không nên gõ, chỗ có sẹo cũng không nên gõ.
Gõ tại chỗ thì gõ theo hình trôn ốc, từ ngoài vào trong hoặc từ trong ra ngoài, rồi châm kim 3 cạnh tại 5 điểm, nặn ra một ít máu.
9. Bệnh ngũ quan 
− Vùng thường quy.
− Khu trọng điểm: khu sau gáy.
− Khu kết hợp:
+ Tại chỗ.
+ Khu trong chi trên, chi dưới hoặc khu ngoài chi trên, chi dưới theo biện chứng luận trị.
Cần chú ý mỗi loại bệnh cần có những triệu chứng khác nhau, vì thế trong công thức điều trị cần có gia giảm.
G. Một số cách gõ khác
Những phương pháp điều trị trên là cách điều trị theo vùng của cơ thể. Ngoài ra người ta còn dùng cách gõ theo huyệt, theo kinh, hoàn toàn dựa theo phép biện chứng luận trị:
− Cách gõ theo huyệt: là gõ trực tiếp vào các huyệt theo công thức chữa bệnh của hào châm.
− Cách gõ theo kinh: là gõ vào một đoạn của đường kinh có liên quan với bệnh. Có thể làm như sau:
1. Gõ theo kinh bị bệnh 
Chủ yếu chọn một đoạn đường kinh tại chỗ bị bệnh và một đoạn ở nơi xa.
Ví dụ: bệnh viêm quanh chân răng (nha chu viêm) - (thuộc kinh dương minh Vị); nơi gõ:
− ở mặt: một đoạn kinh Đại trường từ huyệt nghinh hương đến huyệt phù đột; một đoạn kinh Vị từ huyệt thừa tương đến huyệt đầu duy.
− ở nơi xa: một đoạn kinh Đại trường từ huyệt khúc trì đến huyệt hợp cốc; một đoạn kinh Vị, từ huyệt tam túc lý đến huyệt nội đình.
2. Gõ theo kinh có quan hệ biểu lý với kinh bị bệnh 
Ví dụ: điều trị bệnh đái dầm (do khí cơ của Bàng quang kém); nơi gõ:
− Một đoạn kinh bị bệnh (kinh Bàng quang) từ huyệt tam tiêu du đến huyệt bàng quang du.
− Một đoạn kinh có quan hệ biểu lý (kinh Thận) từ huyệt hoành cốt đến huyệt hoang du.
3. Gõ theo quan hệ mẹ con 
Điều trị theo nguyên tắc: bệnh hư thì bổ mẹ, bệnh thực thì tả con.
Ví dụ: bệnh có đờm thuộc hư chứng.
Phép điều trị: bổ thổ sinh kim; nơi gõ:
− Một đoạn kinh Phế từ huyệt thái uyên đến huyệt khúc trạch.
− Một đoạn kinh Tỳ từ huyệt ẩn bạch đến huyệt âm lăng tuyền.
− Một đoạn kinh Vị từ huyệt túc tam lý đến huyệt phong long.
4. Gõ theo quan hệ sinh khắc 
Ví dụ: bệnh viêm bàng quang do thấp nhiệt.
Phép điều trị: kiện tỳ, hành thủy để lợi thủy hay khắc thủy; nơi gõ: − Một đoạn kinh Tỳ từ huyệt ẩn bạch đến huyệt âm lăng tuyền − Một đoạn kinh Tỳ từ huyệt xung môn đến huyệt ssại hoành.
Tóm lại 
Có thể thể gõ kim hoa mai hai cách:
− Gõ theo khu, vùng (dựa trên cơ sở học thuyết Thần kinh).
− Gõ theo huyệt vị và theo đường kinh (dựa trên cơ sở học thuyết kinh lạc).
Cả hai cách đều đem lại kết quả tốt.

Bí quyết bảo vệ sức khỏe qua đôi bàn chân

 Sự kỳ diệu của đôi bàn chân
Từ cổ xưa, y học đã biết chữa bệnh bằng cách xoa, day, bấm huyệt bàn chân. Phương pháp này đã được lưu truyền từ thời Xuân Thu Chiến Quốc. “Hoàng đế nội kinh”, một pho sách kinh điển của nghề thuốc đã nói tới cách chữa bệnh dạ dày, đường ruột, tê chân bằng phương pháp xoa, day, bấm huyệt bàn chân.
Ðến thế kỷ 19, phương pháp chữa bệnh bằng bàn chân đã được các nhà nghiên cứu khoa học châu Âu viết thành sách. Hiện nay, tại Mỹ, Viện Nghiên cứu phản xạ học quốc tế Florida đang nghiên cứu sâu về phương pháp chữa bệnh bằng phản xạ bàn chân.
Người ta cho rằng bàn chân là “quả tim” thứ hai của con người. Xoa bóp bấm huyệt đôi bàn chân vẫn đang có những bước phát triển mới, thực sự đã trở thành một phương pháp chữa bệnh độc đáo, có khả năng phòng và chữa trị được nhiều chứng bệnh. Dễ học, dễ làm, hiệu quả cao có thể được coi là đặc điểm của phương pháp phòng và chữa bệnh này.
Chữa bệnh bằng phản xạ bàn chân được xây dựng trên cơ sở học thuyết âm dương, ngũ hành và học thuyết kinh lạc của y học cổ truyền (YHCT). Học thuyết kinh lạc của YHCT cho thấy, ở mỗi chân có 6 đường kinh lạc của các tạng phủ, như can, tỳ, thận và đởm, vị, bàng quang. Thông qua tác dụng điều hòa âm dương, thông kinh hoạt lạc... mà có tác dụng chữa bệnh.
Các nhà khoa học cho biết, ở mỗi bàn chân có tới khoảng 7,000 đầu mút thần kinh và họ cũng chứng minh được sự liên quan giữa các vùng phản xạ ở chân với các cơ quan của cơ thể. Năm 1872, tiến sĩ Uyliamf Phischellant, một bác sĩ chuyên khoa tai - mũi - họng Mỹ tình cờ phát hiện sự liên quan giữa tác dụng giảm đau trong phẫu thuật khi bệnh nhân tì mạnh các đầu ngón chân lên thành ghế. Những nghiên cứu sau đó cũng đã cho phép khẳng định sự liên quan giữa các cơ quan trong cơ thể với các vùng phản xạ ở bàn chân. Khi cơ quan đó có những biểu hiện rối loạn chức năng hoặc mắc bệnh thì những vùng đại diện của cơ quan đó ở bàn chân cũng có những phản ứng bất thường như đau tức khi bị ấn, ép.
Cơ chế tác động của phương pháp phản xạ bàn chân
Khi tác động vào các vùng phản xạ sẽ tạo ra được một phản ứng điều hòa chức năng các cơ quan tương ứng với nó, cải thiện sự tuần hoàn huyết dịch ở chỗ đau và qua đó phát huy được hiệu quả phòng và chữa bệnh.
Phương pháp tác động bàn chân
Bạn có thể dễ dàng học được cách xoa bóp đôi chân để chữa bệnh.
Quá trình tác động chia thành 3 giai đoạn:
• Giai đoạn 1: ngâm chân nước nóng trước khi đi ngủ đã trở thành thói quen của người Trung Hoa từ lâu đời.
Bạn hãy ngâm đôi bàn chân vào chậu nước nóng ấm trong 5 - 10 phút. Khi pha nước ngâm chân, có thể cho một chút muối, vài giọt tinh dầu vào chậu nước. Sự nóng ấm và mùi thơm của tinh dầu mang lại cho bạn cảm giác thoải mái dễ chịu. Tiếp đó, hãy lau khô đôi bàn chân bằng một chiếc khăn bông sạch, không cần phải bôi dầu. Nếu không có điều kiện ngâm chân nước nóng, trước khi xoa bấm nên xoa xát hai lòng bàn chân với nhau hoặc dùng lòng bàn tay xoa xát lòng bàn chân cho nóng ấm. Với cách làm này bạn có thể thực hiện ngay tại văn phòng của chính bạn.
• Giai đoạn 2: là giai đoạn tác động toàn thân và xác định các vùng phản xạ bệnh lý.
Bạn vẫn có thể dùng đầu ngón tay cái xoa bấm nhẹ nhàng một cách từ từ vào khắp lòng bàn chân. Khi phát hiện một hay nhiều vùng phản xạ có những phản ứng bất thường, như đau nhói, tức... bạn nên xoa bấm nhẹ nhàng các vùng phản xạ đó, nhưng không nên quá lâu hoặc quá mạnh có thể gây tụ máu. Cần đối chiếu với đồ hình các vùng phản xạ trên bàn chân để xác định cơ quan tương ứng mắc bệnh. Nếu bạn mắc bệnh đau dạ dày thì nơi vùng dạ dày tương ứng trên bàn chân sẽ có những phản ứng đau tức, tê, nóng khi bạn xoa bấm lên đó. Ðây cũng là nguyên tắc để giúp bạn xác định các vị trí cần tác động ở bàn chân.
• Giai đoạn 3: là giai đoạn tác động định khu.
Cần đặc biệt chú ý xoa bóp các vùng phản xạ tương ứng với các cơ quan mắc bệnh được phát hiện thông qua dấu hiệu đau, tức khác thường khi bấm, nắn vào các vùng phản xạ đó. Cơ quan nào bị bệnh thì hãy tác động lên vùng phản xạ cơ quan đó là chính. Ngoài ra có thể tác động lên các vùng có giá trị điều hòa thần kinh thực vật, điều đó có giá trị làm tăng thêm hiệu quả chữa bệnh cho bạn.
Việc tác động bàn chân: không chỉ đem lại hiệu quả chữa bệnh, đôi khi bằng cách thăm dò các phản ứng khác đó, người ta có thể xác định được căn bệnh mà bạn đã, đang hoặc sẽ mắc phải. Như vậy có nghĩa là ngoài tác dụng chữa bệnh, việc xác định các vùng phản xạ tương ứng còn có giá trị giúp cho việc chẩn đoán bệnh.
Quá trình xoa, bấm lòng bàn chân sẽ mang lại cho bạn cảm giác thư giãn thần kinh và thể xác, giảm đau, chống co thắt. Với phương pháp xoa bấm bàn chân, người ta đã chữa được nhiều chứng bệnh, như nhức đầu, suy nhược thần kinh, trầm cảm, hồi hộp, lo lắng, hen suyễn, đau dạ dày... và giảm đau trong phẫu thuật. Thậm chí chỉ bằng tác động trên đôi bàn chân cũng có thể làm áp huyết ở người bệnh tăng áp huyết giảm xuống một cách đáng kể. Các nhà khoa học cũng đã chứng minh được, khi ngâm chân bằng nước nóng cũng có tác dụng làm dãn nở các mạch máu ở não, góp phần tăng cường lưu lượng máu lên não. Thông qua tác dụng đó mà hạn chế được tai biến mạch máu não, một tai biến thường gặp ở người trung - cao tuổi bị vữa xơ động mạch.
CÁCH MASSAGE CHÂN
1. Ngồi xuống sàn, chân hơi co lại. Giữ cho bàn chân hoàn toàn tiếp xúc với mặt đất. Vuốt mạnh tay bắt đầu từ mắt cá chân lên tới đầu gối. Thực hiện lần lượt với cả phía trước và phía sau của chân. Nhớ giữ bàn tay luôn luôn phẳng.
2. Bắt đầu với phần cơ nối giữa hai bắp chân với gót chân (phía dưới đầu gối), dùng hai tay xoa bóp mạnh.
3. Đặt các ngón tay quanh bắp chân, nhấn hai ngón tay tại vùng trung tâm (bụng chân), giữ yên trong 7 giây, tiếp tục di chuyển hai ngón tay hướng lên phía trên. Làm lại nhiều lần.
4. Lần lượt vuốt nhẹ hai bàn tay quanh khu vực đầu gối. Sau đó nhấn hai ngón tay cái ngay phía trên gối, di chuyển lên phía đùi. Thực hiện nhiều lần.
5. Hơi duỗi chân ra một chút sao cho thật thoải mái. Dùng một tay xoa bóp nhẹ nhàng phía bên dưới bắp chân, tiến dần lên trên.
6. Hơi nghiêng chân hướng vào trong. Bắt đầu từ đầu gối, dùng hai bàn tay vuốt mạnh từ dưới lên.
7. Dùng đầu ngón tay xoa bóp từ dưới đầu gối lên. Di chuyển ngón tay theo hướng đường chéo, tiến dần về phía hông. Bàn chân hơi nghiêng vào trong để tạo tư thế thoải mái.
8. Duỗi nhẹ đầu gối, xoay bàn chân hướng ra ngoài để tạo tư thế thoải mái. Dùng hai bàn tay lần lượt xoa bóp phần cơ bắp phía bên trong bắp đùi.
9. Véo nhẹ từng chút một phần cơ bắp dọc theo phía bên trong bắp đùi.
10. Hơi khum bàn tay lại rồi vỗ nhịp nhàng, dọc theo phía bên trong bắp đùi.
11. Các ngón tay khép hờ, dựng bàn tay vuông góc với phía bên trong bắp đùi, “chặt” nhẹ xuống.
12. Dùng mu bàn tay vỗ nhẹ. Thả lỏng hai tay để mang lại hiệu quả cao.
13. Nắm lỏng hai bàn tay, đấm nhẹ dọc theo phía bên trong bắp đùi. Thực hiện lại từ 9 - 13 cho phía bên ngoài của bắp đùi.
14. Trước khi kết thúc, dùng hai bàn tay vuốt nhẹ dọc theo chân hướng từ dưới mắt cá lên trên. Thực hiện nhiều lần như vậy.

6 động tác massage chân

Động tác 1: Ngồi trên sàn, bàn chân trái đặt lên đầu gối chân phải; bàn tay trái để lên mu bàn chân, bàn tay phải đặt dưới lòng bàn chân. Vuốt nhẹ bàn chân theo hướng mũi tên trong hình 1. Đổi chân và lặp lại động tác này.
fd
 












- Động tác 2: Đặt cổ chân trái lên đầu gối chân phải. Dùng ngón tay cái ấn nhẹ và xoay đều lên phần mặt trong của gót chân theo hướng mũi tên như trong hình 2.
f


- Động tác 3: Ngón tay cái đặt phía dưới lòng bàn chân, sau đó ấn và vuốt nhẹ theo đường rãnh giữa những ngón chân (hình 3).
mx6-1351735970_500x0.jpg









- Động tác 4: Đặt bàn chân trái lên đầu gối và kéo mũi chân hơi chúi xuống đất. Dùng ngón tay cái massage lòng bàn chân thành hình những vòng tròn nhỏ theo
 hướng mũi tên trong hình 4.
g

- Động tác 5: Dùng ngón cái của bàn tay trái ấn và miết nhẹ theo đường mũi tên như trong hình 5 cho đến ngón cái của bàn chân.hg














- Động tác 6: Nắm lấy những ngón chân, bóp và vuốt nhẹ như trong hình 6. Sau đó lặp lại động tác 1.fg
Chú ý: Trong suốt quá trình thực hiện các động tác, đừng quên thoa một ít dầu massage.

Thứ Sáu, 4 tháng 12, 2015

Sống khỏe với 8 phút massage mặt mỗi ngày


12 động tác xoa mặt


Nếu chịu khó, chúng ta có thể tập 12 động tác xoa mặt vào buổi sáng ngay sau khi thức dậy, cụ thể như sau:
1. Xoa bàn tay cho nóng áp vào mắt (xoa tay áp mắt) 3-5 lần.
Tác dụng: Làm mắt sáng, tỉnh ngủ.
2. Xoa vòng quanh mí mắt từ đầu mày ra phía đuôi mày bằng đầu ngón tay giữa, sau đó dùng đầu ngón tay giữa gõ huyệt trước khoé mắt và sau đuôi mắt rồi gõ huyệt giữa chân mày và giữa xương hốc mắt (ngay dưới con ngươi) mỗi nơi 10 lần.
Tác dụng: Quanh mắt có nhiều huyệt điều tiết con mắt, làm mắt tinh sáng, giảm cận thị, viễn thị, khai thông bộ phận sinh dục nam, khai thông được tinh hoàn. Nữ khai thông buồng trứng, trị đau mỏi cánh tay, bả vai.
xoamat1-6
3. Để hai bàn tay xoa khắp 2 bên mặt, chừa mũi ra. Xoa khắp mặt làm da mặt nóng ấm, da mặt dãn ra, xoa nhiều quanh má.
Tác dụng: Làm da mặt mịn màng, láng bóng, làm thức tỉnh các sinh huyệt, điều hoà lưu thông khí huyết toàn thân.
4. Chà bờ môi trên và cằm. Dùng bàn tay chà qua chà lại, bờ môi trên, bờ môi dưới và ụ cằm, sao cho vùng môi cằm nóng ấm thì dừng (chà nhiều nóng).
Tác dụng: Làm hệ thống tiêu hoá được tốt hơn, giúp hệ bàng quang điều tiết bình thường.
5. Chà dọc mũi (lên xuống). Chập 3 ngón tay trỏ, giữa, áp út vào nhau (ngón giữa để trên sống mũi). Miết từ đầu mũi lên chân tóc, trán, miết lên xuống nhiều lần cho nóng ấm thì dừng.
Tác dụng: Điều hoà nhịp tim, chữa đau cột sống, chữa các bệnh về mũi, làm hạ huyết áp, chữa đau tức ngực, chữa đau cuống họng, làm khoẻ chân, chữa đau mông, háng, chữa đau khớp gối.
6. Khum bàn tay lại úp vào trán, xoa toàn bộ trán, (xoa ngang trán) cho nóng ấm thì dừng.
Tác dụng: Làm cho lục phủ ngũ tạng phản chiếu trên trán được lưu thông. Làm trán không nếp nhăn, tăng cường trí nhớ, tỉnh táo, sáng suốt.
7. Để ngón tay trỏ và giữa vào trước và sau mang tai hình chữ V, chà xát lên xuống cho ấm (chà nhiều nóng gây phỏng da).
Tác dụng: Làm tai thính, trị bệnh tim, bệnh thận, bệnh về cột sống lưng, đau mắt. Chống cảm, mỏi lưng, chống viêm họng, sổ mũi, điều hoà huyết áp, làm nóng ấm người rất nhanh, đặc biệt nhất là vùng trước tai.
xoamat7-12
8. Vuốt cổ (ngửa cổ lên, mở rộng bàn tay) Dùng hai bàn tay đặt từ xương hàm vuốt xuôi xuống cổ (vùng huyệt Thiên đột) chỉ vuốt xuôi không vuốt ngược cho nóng ấm thì dừng.
Tác dụng: làm thông vùng khí quản, chống ho, viêm họng, làm ấm vùng hầu họng, không vướng đờm.
9. Chà gáy: lấy bàn tay chà xát gáy mỗi bên 10 lần, hoặc cho đến khi thấy ấm nóng.
Tác dụng: Tăng cường sức lực cho toàn bộ cơ thể, đưa khí huyết tưới cho toàn bộ vùng não bộ dễ dàng.
10. Cào đầu (dùng 10 đầu ngón tay cào từ mí tóc trán ngược ra sau gáy 50 cái). Dùng 10 đầu ngón tay, cào từ chân tóc lên đỉnh đầu. Cào từ đỉnh đầu dồn về sau ót và hai đầu tai nhiều lần, khi cào phát hiện chỗ nào đau thì cào nhiều lần vào chổ ấy cho tới khi giảm đau.
Tác dụng: Làm máu lưu thông trong não, chữa đau mỏi toàn thân, giúp hệ thần kinh não bộ lập lại sự cân bằng, giải toả những bế tắc, đặc biệt chữa người bị liệt rất tốt.
11. Xoa nóng 2 vành tai. Vuốt tai xuống, cho nóng ấm chừng 30 lần. Hai bàn tay úp vào tai xoa tròn quanh tai cho nóng ấm thì dừng. Dùng hai bàn tay áp vào hai tai các ngón tay đặt ra sau gáy, rồi ép lòng bàn tay vào tai đồng thời dùng 10 đầu ngón tay gõ chẩm.
Tác dụng: Làm khí huyết đưa lên não được lưu thông dễ dàng (làm ấm tai, ấm thận, ấm bao tử). Làm tai tiếp nhận âm thanh tốt, nghe rõ.
12. Gõ răng 10 lần (hai hàm răng dập nhẹ vào nhau). Đảo lưỡi (dùng lưỡi đảo khắp miệng cho đến khi ra nhiều nước miếng, khi đảo lưỡi đưa sát chân răng và lợi nhiều lần), rồi nuốt nước miếng, làm 3 lần cả thảy (để làm mát cơ thể, bổ chân âm).
Tác dụng: Làm chặt lợi, lưu thông khí huyết vùng lợi để nuôi dưỡng răng. Nước miếng mang tính âm, làm mát dạ dày, làm mát cơ thể, bổ chân âm, chống thấp khớp, viêm khớp, khô khớp, làm người trẻ lâu, sát trùng bào tử, chống viêm họng, nhất là nước miếng buổi sáng.
Tóm lại: Xoa mặt buổi sáng có 4 công dụng chính. Khí huyết lưu thông toàn cơ thể. Da dẻ mịn màng, nước da đẹp đẽ. Tiêu hết nám, mụn trên mặt. Mắt tinh, tai thính.

Thứ Ba, 1 tháng 12, 2015




"Bệnh từ miệng mà vào, họa từ miệng mà ra"
Vậy, làm thế nào để "Khỏe từ miệng vào, phúc từ miệng ra?"
Hoàn xin trích dẫn bài "Hướng dẫn kiêng cữ" của thầy L.y Tạ Minh để các bạn tham khảo. Nếu thấy hay và đúng cái bạn đang tìm thì áp dụng ngay và chia sẻ cho những người khác để gia tăng giá trị cho cộng đồng.

                      Hướng dẫn kiêng cữ

 Lương y Tạ Minh.
             Kiêng cữ thực ra chỉ là tránh né những nguyên nhân gây bệnh do bên ngoài đưa tới như thức ăn uống, khí hậu thời tiết, sinh hoạt hằng ngày. Mỗi một ngày khi thức giấc, cơ thể chúng ta bắt đầu đón nhận những yếu tố mới tác động vào như nắng - mưa - gió - bão - bụi bặm - mùi hôi - khí thải……v.v.. Khi bắt đầu ăn sáng là ta đưa một số chất mới vào. Chua có, cay có, đắng - mặn - ngọt có; cái nào hạp cái nào không hạp với ta?
            Điều trị bệnh mà không kiêng cữ thì hiệu quả điều trị rất kém, nếu không muốn nói là sẽ không có kết quả. Chúng ta thấy hiện nay xu hướng của Tây y cũng đã bắt đầu chú ý đến việc khuyên bệnh nhân kiêng cữ trong khi trị bệnh. Trước đây vài mươi năm, hễ hỏi đến kiêng cữ là y như rằng bệnh nhân sẽ bị bác sĩ cự nự cho một hồi. Nào là phải ăn cho đủ dinh dưỡng, nào là đã bệnh mà còn cữ ăn thì làm sao khỏe mà trị bệnh được…vv..!!! Quả thật thì Đông y bắt bệnh nhân cữ ăn hơi nhiều. Có nơi thấy bảng dặn dò kiêng cữ ăn uống của bệnh nhân có đến vài chục món. Có lẽ việc này xảy ra là do bệnh nhân uống thuốc Đông y, luôn có sự tương tác qua lại giữa thuốc và thức ăn. Vì thực chất thuốc Đông y đều có nguồn gốc thực vật hay động vật, là một dạng thức ăn hơi đặc biệt vậy thôi.
            Nếu chỉ dùng huyệt để trị bệnh thì chúng ta không sợ những tương tác như đã nói mà chỉ cần kiêng cữ những tác nhân gây bệnh mà thôi. Đó là một trong những ưu điểm của phương pháp trị bệnh không dùng thuốc. Vừa an toàn vừa đơn giản.
            Trong quá trình hành nghề và nghiên cứu chọn lọc tôi nhận thấy chỉ cần kiêng cữ theo các nguyên tắc:
1)                  Điều kiện môi trường không thích hợp: nóng - lạnh, ẩm - khô, trong sạch hay bụi bặm.
2)                  Điều kiện làm việc: thay đổi công việc hay ít ra cũng cải thiện thói quen trong làm việc đối với các bệnh do nghề nghiệp gây ra.
3)                  Thức ăn, uống: nếu kiêng cữ như Đông y lâu nay tuân theo ta sẽ có một danh sách rất dài, thậm chí hầu như không còn gì để ăn ngoài mễ cốc (gạo, lúa mì…)!! Bệnh nhân sẽ dễ rơi vào tình trạng suy dinh dưỡng. Do đó tôi chỉ chú trọng vào những món trực tiếp gây bệnh một cách mạnh mẽ cho cơ thể mà thôi. Gồm các nhóm chính.
·                     Nhóm gây lạnh cho cơ thể trong những bệnh do lạnh: thức ăn uống ướp lạnh, các món có vị đắng mạnh như khổ qua, rau má, tim sen, rau ngổ, rau đắng…… Các món quá mát như cam, dừa, thanh long, rau đay, bồ ngót……
·                     Nhóm gây nóng ráo cho cơ thể: các món ăn chiên, các thức có vị cay nồng như tiêu, ớt, tỏi, gừng…… Các món cung cấp năng lượng nhiều như chocolate, cacao, các loại kẹo bánh có dùng đường……
·                     Nhóm gây co cân - cơ: các chất có vị chua đậm như chanh, cam, thơm (dứa)…… các chất làm lạnh cơ thể.
·                     Nhóm gây trì trệ: hầu hết các món có chất nhờn đều gây trì trệ ứ đọng cho cơ thể như đậu bắp, rau đay, mồng tơi, khoai mỡ…… và các chất làm hạ nhiệt.
·                     Nhóm gây viêm: hiện nay tôi chỉ phát hiện ra hai món gây viêm rất mạnh (trên cơ thể vốn bị viêm): thịt gà và các loại mắm như mắm tôm, mắm ruốc, mắm sặc, mắm thái… (nước mắm thì vô hại, có lẽ vì độ mặn cao và quá trình lên men đã hoàn chỉnh nên không có độc - hay ít độc??).
·                     Nhóm có chất hóa học phát sinh: tất cả các món trải qua quá trình lên men sinh học (khác với lên men công nghiệp như xì dầu, magie): như chao, tương, bánh mì, rượu, bia…… LƯU Ý: các loại này đôi khi đã nấu chín vẫn không phân hóa được các hóa chất trong nó nên vẫn gây bệnh cho cơ thể khi dùng.
Nói chung khi bệnh có liên quan tới gan (Can) và tụy (Tỳ) thì cần kiêng cữ khá nhiều, nghiêng về hướng chất gây viêm và chất có hóa chất lạ, vì gan và tụy là bộ máy chính trong xử lý hóa chất của cơ thể (Can chủ sơ tiết, mưu lự – Tỳ chủ hóa), dĩ nhiên ở tế bào cũng có những quy trình xử lý hóa chất nhỏ riêng. Với Gan ta còn cần kiêng cữ thêm thịt bò, cá biển độc như cá ngừ, cá chuồn, cá nhám, cá nục… còn các loại cá hiền thì dùng được như cá chim, cá thu, cá bạc má… Với Tụy ta còn cần kiêng cữ thêm các chất gây lạnh.
            Còn các loại bệnh chứng liên quan ta cứ theo bảng hướng dẫn nêu trên mà khuyên bệnh nhân kiêng cữ.
            Theo triệu chứng ta có:
·                     Chứng đau nhức: cữ nhóm gây lạnh, gây co cân cơ.
·                     Chứng viêm (sưng + nóng + đỏ + đau), chấn thương: cữ nhóm gây viêm và nhóm gây co cân cơ, nhóm gây lạnh (nếu bệnh thuộc hàn), nếu là bệnh thuộc nhiệt thì ngược lại cần cữ nhóm gây nóng.
·                     Chứng ứ trệ, sưng nề (không nóng đỏ): cữ nhóm gây trì trệ, nhóm gây co cân cơ, nhóm gây lạnh (vì lạnh cũng là một nguyên nhân gây trì trệ cho cơ thể).
·                     Chứng có nhiễm trùng hay viêm do nhiệt: viêm do nhiễm trùng hay do nhiệt đều gây ra triệu chứng đau nhức. Thật ra trong Đông y thì phân chia khá rõ: đau thì do nhiệt, nhức là do hàn, nhưng hầu hết bệnh nhân không thể phân biệt được hai triệu chứng này mà họ thường gộp chung hoặc nói lẫn lộn. Loại này cần cữ các món gây nóng ráo, nhóm gây viêm.
·                     Các chứng có tính dị ứng, các loại bệnh ngoài da: nhóm có hóa chất phát sinh.
Như vậy ta có một đường lối kiêng cữ khá linh động vì theo gốc bệnh chứ không theo tên bệnh. Đo đó dễ nhớ để dặn dò bệnh nhân.
TP. Hồ Chí Minh, 12 – 6 – 2002.

Thứ Hai, 30 tháng 11, 2015

Bảo về sức khỏe bằng khăn nóng, sáng xoa mặt, tối xoa chân

 Tác giả: Bùi Quốc Châu
huyet_tren_mat
Người thày thuốc tốt nhất chính là bản thân chúng ta. Hãy biết tự bảo vệ sức khỏe và nâng cao thể trạng cơ thể bằng những biện pháp đơn giản mà hiệu quả như sau:
Bảo vệ sức khỏe bằng khăn nóng.
Hãy tưởng tượng, bạn có một sức khỏe hoàn hảo chỉ với chiếc khăn nóng. Làm thé nào để biến điều tưởng tượng đó thành sự thật?  
Các bạn hãy tận dụng chút thời gian ngắn ngủi rửa mặt mỗi buổi sáng để chà xát kỹ khuôn mặt của mình bằng nước ấm. Làm được như vậy thường xuyên, bạn sẽ có một cơ thể thực sự dẻo dai và bền bỉ.
Tuy nhiên người nóng nhiệt không nên chà nhiều, hoặc đã xoa mặt bằng tay thì thôi không chà mặt bằng khăn nóng nữa vì sẽ làm cơ thể nóng quá không tốt. Cách này hợp với người có cơ thể lạnh. Những kết quả thu được có thể là:
- Làm khỏe tim: Đi lên xuống cầu thang không bị mệt, hết bị mệt tim, hồi hộp, giật mình khi nghe tiếng động mạnh.
- Làm ấm các khớp chân tay, tan vôi chống thoái hóa khớp, hỗ trợ việc trị viêm chu vai (tay đau không thể giơ cao khỏi đầu).
- Làm mạnh sinh lý, giúp quý ông cường dương, chống xuất tinh sớm.
- Làm ăn ngon, ngủ tốt (nếu người nóng, có thể tạng dương nếu chà mặt buổi tối sẽ bị mất ngủ).
- Phòng và trị tình trạng liệt dây thần kinh số 5 và số 7.
- Phòng và trị tình trạng Cholesterol trong máu cao.
- Phòng và trị bệnh gan nhiễm mỡ.
- Phòng và trị bệnh đau dạ dày, lá lách.
- Phòng và trị táo bón, các bệnh đường ruột.
- Làm mạnh gân, xương.
- Làm da mặt hồng hào, mịn màng, trẻ hóa cơ thể.
- Làm săn chắc da thịt toàn thân.
12 động tác xoa mặt
Hãy tưởng tượng, Khí huyết lưu thông trong toàn cơ thể của bạn. Da dẻ của bạn cực kỳ mịn màng, nước da của bạn tuyệt đẹp. Bạn hết nám, hết mụn trên mặt. Mắt của bạn tinh hơn, tai của bạn thính hơn.
Làm thế nào để bạn đạt được điều đó?
Nếu chịu khó tập 12 động tác xoa mặt vào buổi sáng ngay sau khi thức dậy, cụ thể như sau:
1. Xoa bàn tay cho nóng áp vào mắt (xoa tay áp mắt) 3-5 lần.
Tác dụng: Làm mắt sáng, tỉnh ngủ.
2. Xoa vòng quanh mí mắt từ đầu mày ra phía đuôi mày bằng đầu ngón tay giữa, sau đó dùng đầu ngón tay giữa gõ huyệt trước khoé mắt và sau đuôi mắt rồi gõ huyệt giữa chân mày và giữa xương hốc mắt (ngay dưới con ngươi) mỗi nơi 10 lần.
Tác dụng: Quanh mắt có nhiều huyệt điều tiết con mắt, làm mắt tinh sáng, giảm cận thị, viễn thị, khai thông bộ phận sinh dục nam, khai thông được tinh hoàn. Nữ khai thông buồng trứng, trị đau mỏi cánh tay, bả vai.
xoamat1-6
3. Để hai bàn tay xoa khắp 2 bên mặt, chừa mũi ra. Xoa khắp mặt làm da mặt nóng ấm, da mặt dãn ra, xoa nhiều quanh má.
Tác dụng: Làm da mặt mịn màng, láng bóng, làm thức tỉnh các sinh huyệt, điều hoà lưu thông khí huyết toàn thân.
4. Chà bờ môi trên và cằm. Dùng bàn tay chà qua chà lại, bờ môi trên, bờ môi dưới và ụ cằm, sao cho vùng môi cằm nóng ấm thì dừng (chà nhiều nóng).
Tác dụng: Làm hệ thống tiêu hoá được tốt hơn, giúp hệ bàng quang điều tiết bình thường.
5. Chà dọc mũi (lên xuống). Chập 3 ngón tay trỏ, giữa, áp út vào nhau (ngón giữa để trên sống mũi). Miết từ đầu mũi lên chân tóc, trán, miết lên xuống nhiều lần cho nóng ấm thì dừng.
Tác dụng: Điều hoà nhịp tim, chữa đau cột sống, chữa các bệnh về mũi, làm hạ huyết áp, chữa đau tức ngực, chữa đau cuống họng, làm khoẻ chân, chữa đau mông, háng, chữa đau khớp gối.
6. Khum bàn tay lại úp vào trán, xoa toàn bộ trán, (xoa ngang trán) cho nóng ấm thì dừng.
Tác dụng: Làm cho lục phủ ngũ tạng phản chiếu trên trán được lưu thông. Làm trán không nếp nhăn, tăng cường trí nhớ, tỉnh táo, sáng suốt.
7. Để ngón tay trỏ và giữa vào trước và sau mang tai hình chữ V, chà xát lên xuống cho ấm (chà nhiều nóng gây phỏng da).
Tác dụng: Làm tai thính, trị bệnh tim, bệnh thận, bệnh về cột sống lưng, đau mắt. Chống cảm, mỏi lưng, chống viêm họng, sổ mũi, điều hoà huyết áp, làm nóng ấm người rất nhanh, đặc biệt nhất là vùng trước tai.
xoamat7-12
8. Vuốt cổ (ngửa cổ lên, mở rộng bàn tay) Dùng hai bàn tay đặt từ xương hàm vuốt xuôi xuống cổ (vùng huyệt Thiên đột) chỉ vuốt xuôi không vuốt ngược cho nóng ấm thì dừng.
Tác dụng: làm thông vùng khí quản, chống ho, viêm họng, làm ấm vùng hầu họng, không vướng đờm.
9. Chà gáy: lấy bàn tay chà xát gáy mỗi bên 10 lần, hoặc cho đến khi thấy ấm nóng.
Tác dụng: Tăng cường sức lực cho toàn bộ cơ thể, đưa khí huyết tưới cho toàn bộ vùng não bộ dễ dàng.
10. Cào đầu (dùng 10 đầu ngón tay cào từ mí tóc trán ngược ra sau gáy 50 cái). Dùng 10 đầu ngón tay, cào từ chân tóc lên đỉnh đầu. Cào từ đỉnh đầu dồn về sau ót và hai đầu tai nhiều lần, khi cào phát hiện chỗ nào đau thì cào nhiều lần vào chổ ấy cho tới khi giảm đau.
Tác dụng: Làm máu lưu thông trong não, chữa đau mỏi toàn thân, giúp hệ thần kinh não bộ lập lại sự cân bằng, giải toả những bế tắc, đặc biệt chữa người bị liệt rất tốt.
11. Xoa nóng 2 vành tai. Vuốt tai xuống, cho nóng ấm chừng 30 lần. Hai bàn tay úp vào tai xoa tròn quanh tai cho nóng ấm thì dừng. Dùng hai bàn tay áp vào hai tai các ngón tay đặt ra sau gáy, rồi ép lòng bàn tay vào tai đồng thời dùng 10 đầu ngón tay gõ chẩm.
Tác dụng: Làm khí huyết đưa lên não được lưu thông dễ dàng (làm ấm tai, ấm thận, ấm bao tử). Làm tai tiếp nhận âm thanh tốt, nghe rõ.
12. Gõ răng 10 lần (hai hàm răng dập nhẹ vào nhau). Đảo lưỡi (dùng lưỡi đảo khắp miệng cho đến khi ra nhiều nước miếng, khi đảo lưỡi đưa sát chân răng và lợi nhiều lần), rồi nuốt nước miếng, làm 3 lần cả thảy (để làm mát cơ thể, bổ chân âm).
Tác dụng: Làm chặt lợi, lưu thông khí huyết vùng lợi để nuôi dưỡng răng. Nước miếng mang tính âm, làm mát dạ dày, làm mát cơ thể, bổ chân âm, chống thấp khớp, viêm khớp, khô khớp, làm người trẻ lâu, sát trùng bào tử, chống viêm họng, nhất là nước miếng buổi sáng.
Tóm lại: Xoa mặt buổi sáng có 4 công dụng chính. Khí huyết lưu thông toàn cơ thể. Da dẻ mịn màng, nước da đẹp đẽ. Tiêu hết nám, mụn trên mặt. Mắt tinh, tai thính.
6 động tác xoa chân
Ngược lại với xoa mặt, các bạn nên xoa chân vào buổi tối trước khi đi ngủ. Thực hiện 6 động tác sau đây:
1. Ngồi trên sàn, bàn chân trái đặt lên đầu gối chân phải. Bàn tay trái để lên mu bàn chân, bàn tay phải đặt dưới lòng bàn chân. Sau đó vuốt nhẹ bàn chân. Đổi chân và lặp lại động tác này.
2. Đặt cổ chân trái lên đầu gối phải. Dùng ngón tay cái (bàn tay phải) ấn nhẹ và xoa đều lên phần mặt trong của gót chân.
3. Ngón tay cái (bàn tay phải) đặt phía dưới lòng bàn chân, sau đó ấn và vuốt nhẹ theo đường rãnh giữa những ngón chân.
ban_chan
4. Dùng ngón cái của bàn tay trái ấn và miết nhẹ theo đến ngón cái của bàn chân.
5. Đặt bàn chân trái lên đầu gối và kéo mũi chân hơi chúi xuống đất. Dùng ngón tay cái (bàn tay phải) xoa lòng bàn chân thành hình những vòng tròn.
6. Nắm lấy những ngón chân, bóp và vuốt nhẹ.
Sau đó có thể lập lại các động tác trên thêm một lần nữa. Trong suốt thời gian thực hiện các động tác đừng quên thoa một ít dầu massage.
Nếu cảm thấy bị đau, thốn, nhức, khi đang làm các động tác trên, hãy cố gắng tìm những chỗ đau thốn, khó chịu nhất trên mặt, chân và day ấn chỗ đó nhiều hơn (trừ trường hợp là mụn bọc hay sưng tấy). Day từ nhẹ tới mạnh đến khi nào hết đau mới thôi (nếu cần có thể làm mỗi ngày vài lần). Đây là những bí quyết rất đơn giản nhưng hữu hiệu vì các điểm đau thốn trên da là những sinh huyệt báo hiệu bệnh sắp hay đang xảy ra.
Day ấn các điểm trên sẽ giúp cơ thể tự điều chỉnh làm lành bệnh một cách tự nhiên.
Cuối cùng, để có giấc ngủ ngon, thần kinh ổn định và huyết áp điều hoà, ta có thể làm 3 động tác sau:
1. Xoa chân cho ấm (bằng 2 lòng bàn chân xoa với nhau).
2. Cào đầu bằng cây cào hoặc bằng các đầu ngón tay từ mí tóc trán ra sau gáy 50 lần.
3. Xoa nóng hai bàn tay, lấy đầu cao (không dùng dầu nước) xoa lên hai gan bàn chân, rồi lấy tay xoa giữa lòng bàn chân, xong xoa toàn bộ lòng bàn chân (gồm cả ngón chân, mu bàn chân, cổ chân, kẽ các ngón chân) cho thật kỹ. Xoa bóp cho tới khi nào bàn chân mềm và ấm áp mới thôi.
Chú ý: Xoa mạnh để làm cho nóng ấm bàn chân.

Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2015

Cách Chữa Cận Thị, Viễn Thị, Loạn Thị Bằng Phương Pháp Tự Nhiên Của 

Dr. Bates

Bài 1: Thư giãn mắt bằng palming.
– Nhắm mắt.
– Úp 2 bàn tay vào mắt, lòng bàn tay trái che toàn bộ hốc mắt trái, lòng bàn tay phải che toàn bộ hốc mắt phải, 5 ngón tay trái để chéo 5 ngón tay phải – để chính giữa trán, tay trái để bên trong, tay phải để bên ngoài (như hình vẽ). 
– Với tư thế như vậy, nghĩ đến 1 điều gì đó vui vẻ, thư giãn càng lâu càng tốt, ngày vài lần, mỗi lần 10-15 phút. 
Với con mình thì mình bắt palming vào buổi tối, ban ngày bé đi học thì khuyến khích bé thỉnh thoảng làm như vậy trong vòng 1-2 phút cũng tốt.
chua-can-thi-tu-nhien
Bài 4:Cách tập mắt với bảng thị lực
Bảng thị lực được mua ở hiệu thuốc (mình mua ở phố Phương Mai (Hà nội), gần cổng Bệnh viện Việt Nhật ý). Mình mua 3 loại bảng: 
– loại 1 là chữ C quay ngược xuôi (bảng bằng giấy bìa hơi cứng).
– loại 2 là chữ E quay ngược xuôi (bảng chữ E này làm bằng mica)
– loại 3 bảng là các chữ cái (bảng này cũng bằng bìa giầy). . Nếu các mẹ không mua được bảng này thì các bạn có thể download trên internet, search eye charts hoặc Snellen test cards là được. Mình đã load rồi, nhờ Mod post hộ mình vào đây để phục vụ cho các mẹ không mua được bảng này, xin gửi tặng các mẹ 4 bảng thị lực nhé, các mẹ in ra rồi mang về tập. Mỗi bảng in thành 2 bản copies nhé.
Bảng 1:
chua-can-thi-Eyechart 1
Bảng 2:
chua-can-thi-eye-chart-2
Bảng 3:
chua-can-thi-eye-chart-3
Bảng 4:
chua-can-thi-eye-chart-4
Cách tập mắt như sau:
1- Dán bảng thị lực lên tường, hoặc để trên giá vẽ: À, để thuận lợi cho việc có thể tập mắt bằng bảng thị lực ở mọi nơi mọi lúc, nhất là ngoài trời, dưới ánh sáng mặt trời, mình đã mua 1 cái giá vẽ (ở phố Yết Kiêu, Hà Nội, hình như là số 15 thì phải), loại đơn giản nhất, có 3 chân bằng gỗ, giá 35.000đ/cái. Mình dùng 2 cái đũa, cắm vào các lỗ ở trên thanh giá (họ đã đục sẵn nhiều lỗ lắm, để điều chỉnh độ cao của bản vẽ cho phù hợp với người vẽ ý mà, kiểu như người vẽ có thể vẽ khi đứng hoặc vẽ khi ngồi ý).
Mình mua thêm 1 cái bìa cứng to hơn khổ A3 nữa để kẹp cái bảng thị lực lên đấy, cái bìa cứng này hình như 30.000đ/cái, nó kiểu như cái file clip ý. Nếu nhà mẹ nào có bìa rồi thì khỏi phải mua, đặt luôn lên 2 cái đũa cắm ở 2 thanh giá vẽ 2 bên, kẹp cái bảng thị lực lên là xong. Đơn giản lắm ý. Cái này tự mình nghĩ ra, trên trang web không nói đến, mình dùng cái này để cho con tập mắt ở ngoài cửa, ánh sáng tốt hơn. 
2- Chiếu sáng vào bảng thị lực: Dr. Bates khuyên lúc tập nên để lượng ánh sáng đủ lớn chiếu vào bảng thị lực (không phải chiếu vào mắt nhé). Tốt nhất là mới tập thì tập ngoài trời, lúc ánh sáng tốt. Mình thường cho con tập ngoài trời vào 2 ngày cuối tuần, giờ bé nhìn bảng thị lực ngoài trời được 9/10 luôn (khoảng cách 5m hẳn hoi, với riêng từng mắt). Trước đây á, cái hồi đi tập ở chỗ BS.Tiến Thoa ý (hồi đấy là 2.75 điốp), nheo mắt nhíu mày các kiểu cũng chỉ 3/10. Tuy nhiên giờ mình biết bác sĩ hướng dẫn tập nhíu mày nheo mắt thế là không đúng, mắt phải nhìn một cách tự nhiên, chớp chớp mắt nhiều, tóm lại là nhìn bình thường như người bình thường ý. 
Khi tập trong nhà thì mình mua 1 cái đèn bàn, loại mà cái bóng dài hình chữ nhật của Rạng Đông ý, chiếu đèn thẳng vào bảng thị lực, điều chỉnh vị trí của đèn chiếu đúng đến dòng chữ đang tập (do bảng thị lực dài, ánh sáng đèn chiếu vào bị phân dải, chỗ này sáng hơn chỗ khác nên tý lại phải điều chỉnh đèn sao cho chiếu đúng đến cái chữ đang tập).
3- Đứng đúng tầm nhìn để tập mắt: (Central fixation)
Đứng đúng tầm nhìn có nghĩa là đứng (hoặc ngồi) thẳng với bảng tập mắt, không được đứng chéo. Độ cao của bảng thị lực so với mặt đất (hoặc dòng chữ trên bảng thị lực) phải trùng với độ cao của mắt người tập so với mặt đất. Theo Dr. Bates thì mắt sẽ nhìn rõ nhất nếu vật nhìn để đúng tầm nhìn.
Dưới đây là hình vẽ của Dr.Bates để chỉ dẫn về cách nhìn đúng tầm nhìn (central fixation): nhờ Mod post hình vẽ vào đây giúp mình với.
cach-dung-chua-can-thi
4- Khoảng cách tập mắt: Hiện nay các bác sĩ mắt thường cho bạn đứng ở khoảng cách cách 5m so với bảng thị lực. Tuy nhiên khi mới tập thì bạn có thể đứng gần hơn. Đầu tiên mình cho con mình đứng ở khoảng cách 2m, con chỉ nhìn thấy chữ mà người bình thường nhìn thấy ở khoảng cách 9m, mà thỉnh thoảng vẫn sai. 
5- Cách tập mắt:
Mình chỉ từng chữ cái cho con mình đọc, từ chữ to đến chữ nhỏ. Nguyên tắc nhìn là nhìn thoải mái, chớp mắt đều, không cố nhìn, nếu chưa thấy chữ thì nhìn đi chỗ khác, rồi nhìn lại vào bảng chữ (nhìn đi chỗ khác tức là nhìn vào 1 vật nào đó ở vị trí khác, cũng nhìn đúng tầm nhìn nhé). 
Không nhìn chăm chú vào 1 chữ lâu, nhìn không thấy thì chuyển tiếp sang chữ bên cạnh, để mắt con không phải làm việc nặng.
Khi con không nhìn rõ chữ thì mình chỉ hỏi con:”Con nhìn thấy chữ này hở ở đâu” (ví dụ như nếu là chữ U thì hở ở trên, chữ E hoặc C thì hở bên phải, chữ H thì hở ở trên và dưới). Đây là cách tập để nhìn tốt hơn, để bé quen và nhớ với nét của các chữ (mình đọc tài liệu thấy họ lấy ví dụ về việc nhớ (memorization) này rất hay, về 1 cậu bé nhà quê và 1 cậu bé thành phố, lúc nào mình kể sau, có ý nghĩa trong việc cải thiện thị lực)
Tập được 1 lần ghi lại vào sổ xem con nhìn đến dòng nào, sau đó bảo con palming 10 phút (nhiều hơn càng tốt), palming là nhắm mắt úp tay vào mắt ý. Con palming xong lại cho nhìn lại vào bảng thị lực, ghi lại dòng mà con nhìn thấy sau khi palming. Mình cam đoan với các mẹ là sau khi palming xong con sẽ nhìn thấy 1 số chữ mà trước đây con không nhìn thấy, có thể nhìn rõ trong vài giây thôi, sau đó lại bị mờ. 
Dr.Bates có nói việc nhìn thấy rõ hơn chữ trong vài giây là dấu hiệu của sự tiến bộ (sign of progress). Và bản thân mình cũng thấy thế, khi tập cho con có lúc thấy tự nhiên con nhìn rất rõ, lúc sau lại thấy mờ như ban đầu, quả thực là lúc thấy con nhìn rõ thì rất thích, đến lúc sau hỏi lại không nhìn thấy nữa cũng hơi buồn. Tuy nhiên tần suất con nhìn rõ ngày càng tăng. Mới đầu con mình chỉ đứng ở vị trí 2m, giờ đứng ở vị trí xa 4m-5m rồi.
Tóm lại là nguyên tắc tập mắt là không cố nhìn, thỉnh thoảng thư giãn mắt bằng cách xoa tay xung quanh hốc mắt (xoa vào cái xương của hốc mắt ý, đừng có đè hẳn vào con ngươi của mắt), hoặc palming, hoặc đắp khăn như mình đã hướng dẫn.
 Bài 5: Thư giãn mắt theo cách vẽ bằng mũi (Nosefeather)
Với kim chỉ đỏ của việc tăng thị lực cho mắt là không bắt mắt làm việc quá nhiều, mắt phải được thư giãn. Mắt chỉ được thư giãn khi nhìn từ khoảng cách 2.1m trở lên, chính vì vậy, thường xuyên để mắt được nhìn xa. Nhìn xa bằng cách vẽ các hình ở xa bằng mũi (nosefeather). Cách làm như sau:
Các mẹ cứ tưởng tượng là có 1 cái bút màu gắn ở mũi mình. Vẽ và tô màu cho các vật ở các cự ly xa khác nhau bằng cái bút này, các cự ly từ 2.1m trở lên nhé. Mình hay bảo con mình vẽ và tô màu xanh của cây xanh ở trường học, và ở gần nhà mình. Trong quá trình vẽ thì mũi là vật di chuyển theo hình thù của các vật được vẽ (trong bài của Dr. Bates vật được vẽ gọi là object). Vẽ theo hình thù các vật này xong, rồi tô màu. 
Mình bảo con mình thường xuyên vẽ cây xanh ở trường vào giờ ra chơi, vào lúc hết giờ chờ bác xe ôm đến đón, mỗi hôm vẽ và tô màu 1 cây.
Ở nhà thì con vẽ bằng mũi các chữ cái trong bảng eye charts, thời gian đầu mỗi ngày vẽ vài chữ, mỗi chữ 6 lần. Buổi tối mình cho con ra đứng ngoài hành lang nữa, vẽ cái tum nhà hàng xóm phía xa xa, vẽ cái cột điện, vẽ tháp truyền hình ở tít xa, vẽ trăng, vẽ sao trên trời. Tóm lại là vẽ tất cả những gì có thể vẽ được ở phía xa, để cho mắt thư giãn. Lưu ý là vẽ bằng mũi nhé, không phải bằng mắt tuy rằng mắt vẫn mở mắt và chớp mắt như bình thường. Nếu vẽ hình bé thì đầu, vai, cổ đều dịch chuyển. Nếu vẽ các hình to như cây xanh thì cả người phải dịch chuyển vì vừa phải tuân theo nguyên tắc vẽ bằng mũi, vừa tuân theo nguyên tắc vẽ đúng tầm nhìn (central fixation), đi đi lại lại để vẽ bằng mũi ý.
Mình gửi đường link này để các mẹ vào xem hình vẽ minh họa nhé, link đây http://www.cleareyesight.info/id56.html
Quả thực mình thấy bài tập này rất tốt, làm cho việc vẽ đỡ tẻ nhạt, hơi funny nữa. Với con mình thì mình cho tập cả buổi sáng và tối. Lúc 8-9 giờ tối ý, luyện mắt ở trong bóng tối cũng tốt mà, các mẹ đọc trang web mình gửi từ mục 8-39 nhé, ở menu bên trái ý, họ chỉ dẫn rất chi tiết các cách tập. Có rất nhiều cách tập, bản thân mình cũng chưa áp dụng hết tất cả các hướng dẫn đó. Mình mới tập cho con có vài bài tập chính thôi, nhưng đã thấy thị lực của con dần dần tăng tốt rồi.
Tối hôm qua 2 mẹ con nằm buôn chuyện với nhau trước khi đi ngủ, mình bảo với con là mình post bài về cách tập mắt để tăng thị lực cho mắt trên web, để mọi người biết để tập mắt. Bé tự nói 1 câu, nguyên văn nhé “Thực ra bài tập đơn giản, dễ tập và kết quả tốt nữa”. Mình nghe xong câu đấy và cảm thấy rất mừng, vì bé đã nhận thức được tầm quan trọng của việc tập. Hồi đầu mới tập có những lúc bé cảm thấy chán, giờ việc tập đã thành thói quen, tối nào bảo đi tập mắt bằng bảng thị lực là OK ngay, không kêu ca phàn nàn gì cả. Tập được 1 tý mà cảm thấy nhìn chưa rõ lắm thì tự bảo mẹ “chờ con palming tý đã”. Còn cái vụ đắp khăn vào mắt thì vô cùng là tự giác, tối nào cũng làm, đều đặn như vắt chanh. Để củng cố tầm quan trọng của việc tập mắt cho con, hôm nào con đi học về mình cũng hỏi “Hôm nay con có vẽ cây bằng mũi ko, có palming không, có xoa xung quanh hốc mắt không?”.
Dr.Bates có nói là thời gian đầu phải tập nhiều một chút đối với những người đã đeo kính lâu. Bản thân mình cũng thấy thế, thời gian đầu con mình tập khá lâu đối với bảng thị lực, tập nhìn bằng 2 mắt, rồi tập với từng mắt. Lưu ý là khi tập mắt trái thì khum tay che mắt phải đi, mắt phải vẫn mở nhé, chỉ có lấy cái tay che đi thôi, mục đích là để mắt được tự nhiên, cái cơ mặt ở thái dương không bị co lại, tóm lại là cứ để nhìn như bình thường ý. Mắt nào yếu hơn thì tập nhiều thời gian hơn. Đến nay thì thời gian tập với bảng thị lực của con mình cũng nhanh thôi vì con đã nhìn rõ hơn nhiều. Bản thân con buổi tối cũng bận, cũng phải học nhiều bài nên mình bảo con dành nhiều thời gian cho palming và đắp mắt, kèm theo vẽ bằng mũi ngoài trời (lúc 8-9 giờ tối ý), mình cho con tập thể dục nữa. 
Bài 6: Chớp mắt thường xuyên (Blinking)
trong quá trình làm việc mắt các bạn nhớ chớp mắt thường xuyên. Việc này rất quan trọng, đừng để mắt chăm chú quá, mà không chớp mắt. 
Chớp mắt một cách nhẹ nhàng, như cánh bướm đập, không làm căng các cơ ở xung quanh mắt. 
Mình đọc tài liệu thấy họ khuyên mọi người nên quan sát mắt con mèo, mèo chớp mắt rất thường xuyên.
Vậy nên chúng ta nên chớp mắt thường xuyên, một cách nhẹ nhàng.
Bài 7: Để ánh sáng mặt trời chiếu vào mắt (sunning)
Ánh sáng mặt trời rất tốt cho mắt. Dưới đây là cách tập mắt dưới ánh sáng mặt trời
Cách tập mắt dưới ánh sáng mặt trời
Động tác 1: đứng một chỗ
Đứng dưới ánh sáng mặt trời, nhắm mắt và quay đầu, mắt, mặt/đầu dịch chuyển cùng hướng, cùng lúc
1- Nghiêng đầu từ trái sang phải, từ phải sang trái
Cảm thấy mặt trời di chuyển giữa 2 mắt, di chuyển trên mặt
2- Ngửa đầu lên trên, cúi xuống dưới.
3- Xoay vòng đầu theo chiều kim đồng hồ, ngược chiều kim đồng hồ
Động tác 2: mắt nhắm, tư thế đứng
– Mặt hướng về phía mặt trời, cả người nghiêng về bên trái, bên phải 
– Xoay người
Động tác 3: Ngồi ghế tựa, hướng về phía mặt trời
Ngồi ghế, mắt nhắm, nghĩ đến 1 điều gì đó mình thích. Thỉnh thoảng xoay đầu sang trái, sang phải.
Mời các bạn xem hình vẽ và các hướng dẫn cụ thể hơn ở đây http://www.cleareyesight.info/id13.html
mình chỉ dịch nôm thế thôi.
Dr. Bates rất coi trọng ánh sáng mặt trời, các trường hợp thị lực kém (nhược thị, dù đeo kính cũng không được 10/10) thì việc nằm nhắm mắt, để ánh sáng chiếu vào mắt là không thể thiếu được.
Ông ấy là bác sĩ mắt, ông ấy còn có 1 cái đèn với độ sáng mạnh, ông ấy vạch mi mắt của bệnh nhân lên, để chiếu ánh sáng vào bên trong mi mắt, cách này khá phức tạp, mình không phải là bác sĩ nên phần kỹ thuật đó mình bỏ qua, không đọc kỹ. Mình chỉ đọc cách chung để áp dụng cho con mình thôi. Mình cũng đọc cả comments của 1 số bệnh nhân đã chữa mắt bằng phương pháp này, họ cũng đánh giá cao việc sưởi ánh nắng mặt trời cho mắt (nhắm mắt trong khi sưởi nhé).
Ở nhà mình có 1 cái ghế, kiểu vừa nằm được vừa ngồi được ý, để ngoài ban công cho con, con vừa nằm đó thư giãn, vừa chơi được , nằm xuống đất thì sợ lạnh, đứng thì mỏi chân, ngồi mà ngửa cổ lên thì mỏi cổ, thế nên sắm cái ghế này là tốt nhất, có thể thay đổi các tư thế cho thoải mái khi sưởi mắt dưới ánh sáng mặt trời.
…………………………………
Mình bổ sung thêm 1 số thông tin về tập mắt với bảng thị lực cho các mẹ như sau:
Lúc mới tập với bảng thị lực thì con có thể nhìn chưa rõ. Bạn in 2 bảng giống nhau, 1 bảng treo ở khoảng cách xa (mấy m tùy các mẹ), 1 bảng thì đặt ở khoảng cách gần, úp cái bảng ở khoảng cách gần xuống. Trường hợp đến 1 dòng chữ nào đó con không nhìn thấy, thì các mẹ lật cái bảng ở khoảng cách gần lên, cho con nhìn, vẽ bằng mũi với các chữ cái của dòng đó, lưu ý là đứng hoặc ngồi đúng tầm nhìn nhé. Sau đó lật úp cái bảng thị lực ở gần lại, bảo con nhìn ra cái bảng thị lực ở xa, xem con có nhìn thấy không. Đừng sợ con học thuộc lòng các chữ cái, bạn hoàn toàn biết con có nhìn thấy hay không bằng cách chỉ lung tung các chữ cái, không nhất thiết cứ chỉ lần lượt từ trái qua phải. 
Dr. Bates có nhắc đến tác dụng của memorization và imagination (ghi nhớ và tưởng tượng), ông ấy bao
Ông ấy bảo việc này hỗ trợ cho thị lực của mắt. Ông ấy lấy ví dụ về 1 cậu bé nhà quê và 1 cậu bé thành phố. Có 1 cậu bé nhà quê, suốt ngày ở ngoài rừng, biết các loại chim, chỉ cần 1 con chim bay thoáng qua là cậu ấy đã biết con chim này loại gì. Còn cậu bé thành phố, vì không có thói quen nhìn các loại chim nên dù có được giảng kỹ về đặc điểm, màu sắc của các loại chim cũng không thể đọc tên của các loại chim đó ngay lập tức. Tuy nhiên, cậu bé thành phố lại rất quen với các chi tiết của con rô-bốt, có thể lắp đặt chúng một cách tự nhiên, nhanh đến mức cậu bé nhà quê còn đang mắt tròn mắt dẹt ra để nhìn xem nó là cái gì.
Điều đó cũng có nghĩa là để giúp cho con bạn nhìn các chữ trên bảng ở lớp tốt, con cần làm quen với các chữ, một cách nhanh nhất. Bạn cứ cho con tập nhìn bảng thị lực hàng ngày, dần dần con sẽ nhìn thấy các chữ ở các loại bảng thị lực khác nhau, không phải do nó học thuộc lòng vị trí của các chữ.
Mình đã áp dụng cách tập này đối với con mình và quả thực là có tác dụng. Mình cứ để xa dần khoảng cách từ bảng thị lực đến vị trí con ngồi tập mắt, cứ dần dần xa thêm 20cm hoặc 30cm. Con sẽ thích nghi tốt với việc nhìn xa.
Giờ thì bổ sung thêm thông tin về bài tập nosefeather như sau:
Bài tập nosefeather mình cho con tập khi mở mắt để vẽ cây cối, tháp truyền hình, trăng sao…, đồng thời mình cũng cho con tập bài tập nosefeather với các chữ cái và yêu cầu bé nhắm mắt khi tập. Nghĩa là bé vừa nhắm mắt vừa tưởng tượng vẽ các chữ cái bằng mũi, mỗi chữ 6 lần.
…………………….
Bài 8 : Bài tập nghiêng người (The Rock)
Bạn đứng thẳng, rồi nghiêng người sang trái, sang phải. Khi nghiêng sang bên nào thì trọng tâm dồn vào chân bên đó và cả người nghiêng sang bên đó. Nghiêng lần lượt sang trái, rồi sang phải, không dừng lại 1giây nào khi bạn ở vị trí thẳng đứng nhé (liên tục như thế 30 lần). Ánh mắt cũng lần lượt dịch chuyển sang trái, sang phải cùng hướng với việc nghiêng người.
Hình vẽ của bài tập này ở đây: http://www.cleareyesight.info/id15.html
Bài 9: Bài tập quay người (The long swing)
Bạn vung tay, quay mạnh người, theo hình vẽ ở đây http://www.cleareyesight.info/id15.html
Người quay đi đâu thì mắt nhìn theo hướng đó. Khi quay sang bên nào thì gót chân nhấc lên, mũi chân vẫn chạm đất.
Đây là hướng dẫn của Dr. Bates. Còn mình khi tập cho con thì sáng tạo hơn.
Mình học yoga của 1 thầy ở Ấn độ về. Ông ấy cũng dạy bài tập swing, nhưng động tác mạnh hơn. Động tác của ông ấy là chân giữ nguyên, không nhấc lên, quay mạnh tay và người, mắt nhìn theo hướng quay và kết thúc điểm nhìn ở 1 điểm nào đó đằng sau lưng, nghĩa là coi như bạn quay 1 góc 360 độ, bắt đầu điểm nhìn ở phía sau lưng và kết thúc điểm nhìn cũng ở phía sau lưng.
Mình cho con mình tập bài long swing theo cách này vì mình thấy nó mạnh hơn, hiệu quả hơn, đỡ cả mỏi lưng nữa.
Bài 10: Bài tập nhấc tay chân (The cross crawl): nguyên tắc tay nọ, chân kia
Bạn có thể tham khảo hình vẽ ở trang web trên mà Dr. Bates hướng dẫn.
Còn mình thì tập cho con theo video về cross crawl demo này
http://www.youtube.com/watch?v=lnMiWnZkD_M
Bài tập này do bà dorothea hướng dẫn, bà ấy hướng dẫn rất cụ thể, có nhiều bài tập khác nhau (hay còn gọi là các biến thể (variation) của cross crawl). Phần của bà ấy gọi là dorothea live and learn.
Tối nào mình cũng cho con tập mấy bài tập này, mình tập cùng với con, mỗi động tác 30 lần. Không khí tập cùng có 2 mẹ con rất chi là vui vẻ. Hôm nào mình bận thì bé tự tập (tuy nhiên phải công nhận là nếu để bé tự tập thì nó làm nhanh lắm, không hiệu quả như mình cùng tập).
Bản thân mình thấy thế này, Dr. Bates đưa ra lý luận giải thích về việc làm thế nào để mắt sáng. Tuy nhiên đọc bài của ông ấy nhiều khi vẫn cảm thấy hơi chung chung, do vậy mình đã tự search thêm trên internet, vào các forum của nước ngoài để xem thêm phần thảo luận, rồi mới tiến hành tập.
Các mẹ thử xem nhé, có gì thắc mắc mình hướng dẫn tiếp sau nhé.
Bài 11: Sử dụng nguyên tắc 10-10-10 khi nhìn gần – Practice 10-10-10 rule
Nguyên văn tiếng Anh đây: Whenever you perform close vision work (which is what creates 
near-point eye strain) for over 10 consecutive minutes, look up 
and focus on anything at least 10 feet away for at least 10 seconds.
Do this regardless of whether the close vision work you do is at 
a computer or reading paperwork. This simple technique will 
immediately relieve your eyes from the stress caused by close 
vision work. It can help save your vision and allow you to see 
more clearly for years to come. 
Tạm dịch là: Nguyên tắc này được áp dụng như sau; Khi bạn làm việc với cự ly gần (đọc sách,làm máy tính), bạn nên tuân thủ theo nguyên tắc cứ làm việc được khoảng 10 phút thì đưa mắt nhìn xa với khoảng cách ít nhất là 10 feet (khoảng 3m), trong vòng tối thiểu là 10 giây.
Nguyên tắc này là để mắt bạn được giảm bớt sự căng thẳng vì phải nhìn gần (do bản chất của mắt là chỉ được thư giãn khi nhìn xa).
Bài tập này gần giống với bài tập theo nguyên tắc DIAL.
Bài tập 11: Bài tập với nguyên tắc DIAL.
Khi làm việc gần bạn cần để ý tuân theo nguyên tắc sau:
– D: distance: khi đọc hãy để khoảng cách từ mắt đến sách tối thiểu là 30cm.
– I : interrupt: ngắt quãng. Khi đọc hết 1 trang hãy dừng lại 1 chút và nhìn ra xa (kiểu như nhìn xa ít nhất 3m trong vòng 10 giây ý).
– A: angle. Vị trí đặt sách tối thiểu là 30 độ so với mặt phẳng ngang. Vậy hãy mua bàn học cho con là cái bàn có mặt bàn chéo ý. Nhà mình mua bàn cái loại mà có 3 nấc để điều chỉnh độ chéo của mặt bàn.
– L: light: Ánh sáng. Ánh sách cần được chiếu thẳng vào sách hoặc vật cần nhìn, không chiếu vào mắt.
Bài tập theo nguyên tắc D-I-A-L này rất đơn giản thôi, nhưng mình thấy nó khá hiệu quả. Có lần mình đến chơi 1 nhà, thấy chỗ học của con được thắp 1 cái đèn điện rất to, ở ngay trên đầu con, bé con của nhà này bị cận thị. Mình thấy như thế là sai rồi, vì ánh sáng đèn chiếu thẳng cả vào mặt con.
Bài 12: Bài tập với màu sắc (Color Light Treatment)
Đây là đường link bài tập http://www.cleareyesight.info/id37.html
Các mẹ chịu khó đọc bẳng tiếng Anh nhé.
Mình mới áp dụng bài tập này ở đoạn 1 thôi, đoạn ấy nói là: 
“RED, ORANGE, YELLOW ACTIVATES THE LEFT BRAIN HEMISPHERE AND CLEAR CLOSE VISION.
BLUE, PURPLE, LIGHT PURPLE ACTIVATES THE RIGHT BRAIN HEMISPHERE AND CLEAR DISTANT VISION.
GREEN ACTIVATES AND INTEGRATES BOTH LEFT AND RIGHT HEMISPHERES AND CLEAR CLOSE AND DISTANT VISION.”
Vì con mình bị cận thị nên cần phải luyện nhìn xa, do vậy mình thường cho con luyện mắt với màu xanh lá cây. Mình thường xuyên bảo con vẽ và tô cây bằng mắt. Mình cũng mua bờm tóc cho con màu xanh lá cây, quần áo trước đây thì màu đỏ khá nhiều, giờ chuyển gam, chuyển sang màu xanh lá cây . Cái vụ này kể cũng hơi thái quá, nhưng tại con mình nó hay tháo bờm tóc ra ngắm nghía, nên mình cũng đổi luôn màu bờm. 
Nghe hơi buồn cười tý nhưng đấy là thực tế nhà mình đấy.
Sưu tập